Showing posts with label Sách văn hóa. Show all posts
Showing posts with label Sách văn hóa. Show all posts
27.10.11
1.10.11
Trống Đông Sơn
21.8.11
21.7.11
Nhà văn Nguyên Ngọc: Vĩnh biệt Condo, bậc hiền triết của chúng ta, của Tây Nguyên
>> Chúng tôi ăn rừng
Georges Condominas đã ra đi trong đêm thứ bảy 16 rạng sáng chủ nhật 17-7-2011. Thế giới vừa mất một trong những nhà dân tộc học lớn nhất của mình. Chắc chắn trong những ngày đến sự kiện này sẽ gây xao động không chỉ ở Pháp, và ở Việt Nam, nơi nhà bác học này đặc biệt gắn bó. Và tôi chắc ở một nơi sâu tít trong tận cùng Tây Nguyên, tại cái làng nhỏ có tên là Sar Luk bên bờ con sông Krong Nô hoang vắng, dưới chân dãy Chư Yang Sin hùng vĩ, một dân tộc rất nhỏ tên là dân tộc Mnông Gar sẽ làm lễ bỏ mã cho ông, Yoo Condo thân thiết của họ - Yoo là cách người Mnông Gar gọi người nơi khác đến mà đã trở nên ruột thịt.
Tôi đã may mắn được là một người bạn nhỏ của con người vĩ đại ấy, và cách tôi được gặp và quen ông thật lạ, cũng có thể là tiêu biểu cho một trong những tính cách độc đáo của ông. Hơn 30 năm trước, một hôm đang ngồi làm việc ở nhà, tôi nghe điện thoại reo và bên kia đầu dây một người nói với tôi bằng tiếng Pháp: “Tôi vừa từ Paris sang, một chị bạn của anh bên ấy nhờ mang cho anh mấy cuốn sách, làm sao trao được cho anh?”.
Tôi cám ơn và xin ông cho biết tôi có thể đến gặp ông ở đâu để nhận sách. Ông trả lời: “Tôi là Geoges Condominas, hiện ở khách sạn X, anh có thể đến khoảng 2 giờ chiều nay không?” Không thể nói hết sửng sốt của tôi: hóa ra một nhà bác học lớn, mà tôi đã được đọc một số tác phẩm nổi tiếng, vừa gọi điện cho tôi và chỉ mấy tiếng nữa tôi sẽ được gặp ông! Mươi phút sau, điện thoại lại reo. Vẫn là Condominas. “Thôi, anh không cần đến khách sạn đâu. Tôi có một người bạn ở Hà Nội biết nhà anh, tôi sẽ đến chỗ anh ngay bây giờ, được không?”.
Tả sao hết hồi hộp. Mươi lăm phút sau một chiếc xe máy đổ xịch trước thềm: nhà dân tộc học lừng danh thế giới, người thầy của bao thế hệ dân tộc học khắp năm châu, đến nhà tôi bằng xe ôm! Tôi còn nhớ mãi hình ảnh Condo hôm ấy, cũng sẽ là hình ảnh quen thuộc những người biết ông hẳn còn mãi ghi nhớ: chiếc áo vét tông lụng thụng và hơi nhàu, không hề có cà vạt, chiếc mũ phớt hơi rộng vành màu nâu nhạt. Ông ở chơi với tôi gần suốt buổi, say sưa trò chuyện về Tây Nguyên, ông hỏi tôi lên Tây Nguyên từ năm nào, cười bảo “Thế là thua tôi rồi, tôi đến Tây Nguyên trước anh một năm cơ…”.
Cuộc trò chuyện sôi nổi, song cũng nhiều lúc chùng xuống, chúng tôi chia sẻ cùng nhau niềm nhớ và nhất là nổi lo đau đáu về vùng đất xiết bao ruột thịt với cả hai chúng tôi, đang trải qua những thử thách có lẻ là lớn nhất, nặng nề nhất trong suốt lịch lâu dài của nó. Rừng và con người ở đó đang và rồi sẽ ra sao? “Anh biết đấy, Condo bảo, tôi từng viết “Chúng tôi ăn rừng…”. Ăn rừng, người Tây Nguyên “ăn rừng”, xin thức ăn cho sự sống của mình từ rừng, cũng như chúng ta nói chúng ta bú sửa mẹ mà lớn lên thành người. Tây Nguyên không còn rừng thì rồi sẽ ra sao? …”
Chính nổi ưu tư đeo đẳng và ngày càng thống thiết ấy gắn kết chúng tôi. Mỗi lần ông sang Việt Nam, chúng tôi đều gặp nhau, cùng đi Tây Nguyên, cùng đi miền núi Quảng Nam. Lần nào ông cũng bảo: “Tôi luôn thèm về đấy. Ở nơi ấy tôi đã học làm người”. Và ở cuộc triển lãm đặc sắc “Chúng tôi ăn rừng - G. Condominas ở Sar Luk” được trưng bày ở Paris, rồi ở Hà Nội tháng 12-2007, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của ông, có một băng rôn ghi một câu của Condominas, có thể coi là châm ngôn của đời ông, nghe hơi lạ và rất đáng chú ý: “L’ethnographie est un genre de vie”. Có thể dịch: “Dân tộc học là một kiểu sống” hay “Dân tộc học là một lối sống”. Riêng tôi muốn dịch “Dân tộc học là một loại hình sống”. Loại hình, như các loại hình thực vật, động vật… Một loại hình, chứ không phải một nghề.
Condominas được đào tạo bởi những con người không chỉ là những nhà nhân học, dân tộc học lớn, mà còn là những nhân cách lớn, rất đặc biệt, hay đúng hơn nữa, thuộc một “loại hình” riêng, những Marcel Mauss, Paul Mus, Claude và Paul Lévy-Strauss, André Leroi-Gourhan, André-George Haudricourt, Pierre Edouard Mestre, Maurice Leenhardt… cùng với Georges Balandier, Jean Guiart, Paul Mercier… Có thể hiểu một cách vắn tắt “loại hình” ấy như thế này: một nhà khoa học bất kỳ có thể có hai cuộc đời, cuộc đời của người làm khoa học, và một cuộc đời riêng, không nhất thiết gắn làm một.
Nhà dân tộc học thì không, anh ta chỉ có một, không thể tách rời, dân tộc học là cuộc đời anh, cuộc đời anh là dân tộc học, không chừa lại chút gì; anh đồng hóa với đối tượng của mình đến cùng, cùng một số phận, cùng một số mệnh, cùng một loại hình, anh không ở bên ngoài mà bên trong nó, anh chính là nó, thành bại, mất còn.
Chúng ta biết dân tộc học, nói cho đúng, trước hết là một sản phẩm của châu Âu, của chủ nghĩa thực dân. Nó sinh ra khi chủ nghĩa thực dân châu Âu đi chinh phục và biết đến các dân tộc “lạc hậu”, tìm hiểu chúng. Vì vậy nhà dân tộc hầu như bao giờ cũng từ một nền văn hóa được tự coi là cao hơn đến quan sát, nghiên cứu một nền văn hóa bị coi là thấp hơn, từ bên ngoài nhìn vào và từ bên trên nhìn xuống…
Năm 1948 anh thanh niên Condominas vừa mới ra trường, sang Đông Dương, lên Tây Nguyên, tìm đến tộc người Mnông Gar ở làng Sar Luk hoang vắng, và ngay từ đầu ý thức sâu sắc “mặc cảm” đó, hiểu rằng anh phải khắc phục được nó, phải thay đổi toàn bộ cuộc đời mình, nhập thân được vào “loại hình” dân tộc học của mình. Hiểu Mnông Gar ư? Anh phải hiểu nó từ bên trong. Sau này anh sẽ nói, giản dị - vậy đó, chân lý thì bao giờ cũng giản dị - chẳng hạn, “để biết một món ăn Mnông Gar có ngon không thì nhất thiết phải là một người Mnông Gar”. Anh phải thành một người Mnông Gar. Condo vào làng Sar Luk, xin làm một căn nhà chen giữa làng, thành một hộ như bao nhiêu hộ của làng.
Thời gian ngắn đầu, anh còn phải nhờ một phiên dịch, nhưng rồi anh nhanh chóng học thạo tiếng, đến mức đêm nằm mơ toàn bằng tiếng Mnông Gar - nghĩa là anh tư duy không phải bằng tiếng Pháp nữa mà bằng tiếng Mnông Gar; anh “tư duy Mnông Gar”. Anh sống cùng số phận của làng, vui mừng, đau khổ, thành bại, sống chết cùng làng... Mnông Gar đến tối đa, để sự hiện diện của một người ngoài, lại là một da trắng, lại là một nhà dân tộc học nữa, không làm biến dạng hiện thực như hằng có của làng, làm biến dạng một cách tất yếu ứng xử của người làng với nhau và với người lạ khi làng có “khách” lạ…
Song ở đây còn có chỗ rất tế nhị: nhà dân tộc học hết sức “quên” mình đi, để cho làng cũng “quên” sự hiện diện của anh đi… nhưng đồng thời anh vẫn phải là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo quan sát. Có mâu thuẫn không, và nhà dân tộc học phải giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? Có lần tôi đã hỏi Condominas về điều ấy. Rất ngạc nhiên là ông cũng… rất ngạc nhiên. Ông bảo ông không để ý, hay đúng hơn không cảm thấy khó khăn. Có lẽ, ông nói, vì mình sống thật tình đến cùng với bà con.
Ta biết ít ra một ví dụ về thành công này của Condominas, trong việc ông tìm ra được bộ đàn đá tiền sử đầu tiên trên thế giới… Đêm ở làng Sar Luk, như mọi đêm, sau một ngày sống và lao động cùng bà con, Condo ngồi hút rượu cần và rít tẩu thuốc với các già làng bên bếp lửa nhà sàn, lơ mơ ngủ, chợt thức dậy lại hút rượu và rít thuốc... lại lơ mơ ngủ, không hề để ý một thanh niên ngày hôm ấy được điều đi sửa con đường từ Sar Luk đi Đầm Ròn đang lầm rầm kể chuyện… Đang thiêm thiếp, chợt Condo giật mình thức dậy, hỏi: “Cậu vừa nói gì đấy? Nói lại xem!”. Lơ mơ ngủ nhưng ông vừa nghe được hai tiếng “mau prum”. “Nhắc lại đi!”, ông khẩn khoản. Vì, đã quên mình là người lạ, người Pháp, hết sức thông thạo đến ăn sâu trong máu thịt tiếng Mnông Gar, nhưng đồng thời ông vẫn là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo, để chỉ cần hai tiếng “mau prum” nghe như trong mơ đã đánh thức ngay nhà dân tộc học trong ông dậy.
“Mau prum” có nghĩa là đá Chàm. Và là nhà dân tộc học thành thạo, ông biết người Chàm chưa bao giờ đặt chân lên vùng đất Krông Nô này suốt lịch sử. Nghĩa là người thanh niên kia đã thấy một điều gì đó rất lạ mà anh ta không hiểu được trong ngày đi làm đường hôm nay. Anh kể: trong khi lao động sáng nay, các anh đã phá một ụ đất để nắn lại con đường trước đây bị uốn cong, và tìm thấy trong ấy mười một phiên đá lạ, rất dài, và người Mnông khi gặp bất cứ vật cổ nào mà họ không thể hiểu và họ tin là bí ẩn, thiêng liêng thì đều coi đó là của người Chàm xưa…
Sáng hôm sau Condo cùng người thanh niên đi đến hiện trường, quan sát kỹ, nhận ra đấy là những phiến đá đã được đẻo gọt bởi bàn tay con người, một vật cổ, có thể là tiền sử… Những phiến đá ở làng Dnut Lieng Krak, cách Sar Luk khoảng 10 km, được Condominas phát hiện năm 1949, gửi về viện Nhân chủng học Paris, được các chuyên gia nhân học, khảo cổ học, nhạc học nghiên cứu tỉ mỉ, xác nhận là một bộ đàn đá tiền sử (đúng ra là hai bộ, thiếu mất một thanh), cực kỳ đặc sắc, là bộ đàn đá tiền sử đầu tiên tìm được trên thế giới, có niên đại khoảng ba nghìn năm… Condominas rất ít khi nhắc lại chiến công khảo cổ học từng làm chấn động thế giới ấy của ông.
Ông chỉ nói: “Dân tộc học là một loại hình sống”, vậy thôi. Thế đấy!… Từ Sar Luk, Condominas mang về cho thế giới khoa học (và cả văn học) tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô”, ra mắt ở nhà xuất bản Mercure de France, nơi chỉ chuyên in tác phẩm văn học của những văn hào lớn như Verlaine và Rimbaud, và cuốn sách lập tức được nhà nhân học hàng đầu Claude Lévy-Strauss coi là “đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó với hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay”. Ít lâu sau, cuốn sách thứ hai về Sar Luk của ông ra đời, cũng hết sức độc đáo, cuốn “L’exotique est quotidien” (có thể dịch là “Kỳ lạ mỗi ngày”), bút ký tự thuật cảm động và uyên bác về sự nghiệp hay cuộc đời “dân tộc học là một loại hình sống” của ông…
Tôi thường tự hỏi, hẳn là một cách vớ vẩn, ông thuộc nền văn hóa nào, đông hay tây? Thật khó nói. Ông là một bậc hiền triết. Trong dân tộc học. Và giữa đời ngổn ngang. Nhìn ông mà xem, nhân hậu và hiền triết biết bao, khuôn mặt thân yêu ấy.
Hôm nay chúng ta tiễn đưa về cõi vĩnh hằng một nhà bác học lớn, một người bạn lớn của Việt Nam, đặc biệt của các dân tộc Tây Nguyên, người, tôi tin vậy, cho đến giờ phút cuối cùng vẫn không ngớt nổi nhớ dằng dặc và nổi lo đau đáu về Tây Nguyên của chúng ta, của ông. Vì Tây Nguyên đối với ông đã trở thành “một loại hình sống”.
Hãy yêu và lo như ông.
Georges Condominas đã ra đi trong đêm thứ bảy 16 rạng sáng chủ nhật 17-7-2011. Thế giới vừa mất một trong những nhà dân tộc học lớn nhất của mình. Chắc chắn trong những ngày đến sự kiện này sẽ gây xao động không chỉ ở Pháp, và ở Việt Nam, nơi nhà bác học này đặc biệt gắn bó. Và tôi chắc ở một nơi sâu tít trong tận cùng Tây Nguyên, tại cái làng nhỏ có tên là Sar Luk bên bờ con sông Krong Nô hoang vắng, dưới chân dãy Chư Yang Sin hùng vĩ, một dân tộc rất nhỏ tên là dân tộc Mnông Gar sẽ làm lễ bỏ mã cho ông, Yoo Condo thân thiết của họ - Yoo là cách người Mnông Gar gọi người nơi khác đến mà đã trở nên ruột thịt.
Tôi đã may mắn được là một người bạn nhỏ của con người vĩ đại ấy, và cách tôi được gặp và quen ông thật lạ, cũng có thể là tiêu biểu cho một trong những tính cách độc đáo của ông. Hơn 30 năm trước, một hôm đang ngồi làm việc ở nhà, tôi nghe điện thoại reo và bên kia đầu dây một người nói với tôi bằng tiếng Pháp: “Tôi vừa từ Paris sang, một chị bạn của anh bên ấy nhờ mang cho anh mấy cuốn sách, làm sao trao được cho anh?”.
Tôi cám ơn và xin ông cho biết tôi có thể đến gặp ông ở đâu để nhận sách. Ông trả lời: “Tôi là Geoges Condominas, hiện ở khách sạn X, anh có thể đến khoảng 2 giờ chiều nay không?” Không thể nói hết sửng sốt của tôi: hóa ra một nhà bác học lớn, mà tôi đã được đọc một số tác phẩm nổi tiếng, vừa gọi điện cho tôi và chỉ mấy tiếng nữa tôi sẽ được gặp ông! Mươi phút sau, điện thoại lại reo. Vẫn là Condominas. “Thôi, anh không cần đến khách sạn đâu. Tôi có một người bạn ở Hà Nội biết nhà anh, tôi sẽ đến chỗ anh ngay bây giờ, được không?”.
Tả sao hết hồi hộp. Mươi lăm phút sau một chiếc xe máy đổ xịch trước thềm: nhà dân tộc học lừng danh thế giới, người thầy của bao thế hệ dân tộc học khắp năm châu, đến nhà tôi bằng xe ôm! Tôi còn nhớ mãi hình ảnh Condo hôm ấy, cũng sẽ là hình ảnh quen thuộc những người biết ông hẳn còn mãi ghi nhớ: chiếc áo vét tông lụng thụng và hơi nhàu, không hề có cà vạt, chiếc mũ phớt hơi rộng vành màu nâu nhạt. Ông ở chơi với tôi gần suốt buổi, say sưa trò chuyện về Tây Nguyên, ông hỏi tôi lên Tây Nguyên từ năm nào, cười bảo “Thế là thua tôi rồi, tôi đến Tây Nguyên trước anh một năm cơ…”.
Cuộc trò chuyện sôi nổi, song cũng nhiều lúc chùng xuống, chúng tôi chia sẻ cùng nhau niềm nhớ và nhất là nổi lo đau đáu về vùng đất xiết bao ruột thịt với cả hai chúng tôi, đang trải qua những thử thách có lẻ là lớn nhất, nặng nề nhất trong suốt lịch lâu dài của nó. Rừng và con người ở đó đang và rồi sẽ ra sao? “Anh biết đấy, Condo bảo, tôi từng viết “Chúng tôi ăn rừng…”. Ăn rừng, người Tây Nguyên “ăn rừng”, xin thức ăn cho sự sống của mình từ rừng, cũng như chúng ta nói chúng ta bú sửa mẹ mà lớn lên thành người. Tây Nguyên không còn rừng thì rồi sẽ ra sao? …”
Chính nổi ưu tư đeo đẳng và ngày càng thống thiết ấy gắn kết chúng tôi. Mỗi lần ông sang Việt Nam, chúng tôi đều gặp nhau, cùng đi Tây Nguyên, cùng đi miền núi Quảng Nam. Lần nào ông cũng bảo: “Tôi luôn thèm về đấy. Ở nơi ấy tôi đã học làm người”. Và ở cuộc triển lãm đặc sắc “Chúng tôi ăn rừng - G. Condominas ở Sar Luk” được trưng bày ở Paris, rồi ở Hà Nội tháng 12-2007, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của ông, có một băng rôn ghi một câu của Condominas, có thể coi là châm ngôn của đời ông, nghe hơi lạ và rất đáng chú ý: “L’ethnographie est un genre de vie”. Có thể dịch: “Dân tộc học là một kiểu sống” hay “Dân tộc học là một lối sống”. Riêng tôi muốn dịch “Dân tộc học là một loại hình sống”. Loại hình, như các loại hình thực vật, động vật… Một loại hình, chứ không phải một nghề.
Condominas được đào tạo bởi những con người không chỉ là những nhà nhân học, dân tộc học lớn, mà còn là những nhân cách lớn, rất đặc biệt, hay đúng hơn nữa, thuộc một “loại hình” riêng, những Marcel Mauss, Paul Mus, Claude và Paul Lévy-Strauss, André Leroi-Gourhan, André-George Haudricourt, Pierre Edouard Mestre, Maurice Leenhardt… cùng với Georges Balandier, Jean Guiart, Paul Mercier… Có thể hiểu một cách vắn tắt “loại hình” ấy như thế này: một nhà khoa học bất kỳ có thể có hai cuộc đời, cuộc đời của người làm khoa học, và một cuộc đời riêng, không nhất thiết gắn làm một.
Nhà dân tộc học thì không, anh ta chỉ có một, không thể tách rời, dân tộc học là cuộc đời anh, cuộc đời anh là dân tộc học, không chừa lại chút gì; anh đồng hóa với đối tượng của mình đến cùng, cùng một số phận, cùng một số mệnh, cùng một loại hình, anh không ở bên ngoài mà bên trong nó, anh chính là nó, thành bại, mất còn.
Chúng ta biết dân tộc học, nói cho đúng, trước hết là một sản phẩm của châu Âu, của chủ nghĩa thực dân. Nó sinh ra khi chủ nghĩa thực dân châu Âu đi chinh phục và biết đến các dân tộc “lạc hậu”, tìm hiểu chúng. Vì vậy nhà dân tộc hầu như bao giờ cũng từ một nền văn hóa được tự coi là cao hơn đến quan sát, nghiên cứu một nền văn hóa bị coi là thấp hơn, từ bên ngoài nhìn vào và từ bên trên nhìn xuống…
Năm 1948 anh thanh niên Condominas vừa mới ra trường, sang Đông Dương, lên Tây Nguyên, tìm đến tộc người Mnông Gar ở làng Sar Luk hoang vắng, và ngay từ đầu ý thức sâu sắc “mặc cảm” đó, hiểu rằng anh phải khắc phục được nó, phải thay đổi toàn bộ cuộc đời mình, nhập thân được vào “loại hình” dân tộc học của mình. Hiểu Mnông Gar ư? Anh phải hiểu nó từ bên trong. Sau này anh sẽ nói, giản dị - vậy đó, chân lý thì bao giờ cũng giản dị - chẳng hạn, “để biết một món ăn Mnông Gar có ngon không thì nhất thiết phải là một người Mnông Gar”. Anh phải thành một người Mnông Gar. Condo vào làng Sar Luk, xin làm một căn nhà chen giữa làng, thành một hộ như bao nhiêu hộ của làng.
Thời gian ngắn đầu, anh còn phải nhờ một phiên dịch, nhưng rồi anh nhanh chóng học thạo tiếng, đến mức đêm nằm mơ toàn bằng tiếng Mnông Gar - nghĩa là anh tư duy không phải bằng tiếng Pháp nữa mà bằng tiếng Mnông Gar; anh “tư duy Mnông Gar”. Anh sống cùng số phận của làng, vui mừng, đau khổ, thành bại, sống chết cùng làng... Mnông Gar đến tối đa, để sự hiện diện của một người ngoài, lại là một da trắng, lại là một nhà dân tộc học nữa, không làm biến dạng hiện thực như hằng có của làng, làm biến dạng một cách tất yếu ứng xử của người làng với nhau và với người lạ khi làng có “khách” lạ…
Song ở đây còn có chỗ rất tế nhị: nhà dân tộc học hết sức “quên” mình đi, để cho làng cũng “quên” sự hiện diện của anh đi… nhưng đồng thời anh vẫn phải là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo quan sát. Có mâu thuẫn không, và nhà dân tộc học phải giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? Có lần tôi đã hỏi Condominas về điều ấy. Rất ngạc nhiên là ông cũng… rất ngạc nhiên. Ông bảo ông không để ý, hay đúng hơn không cảm thấy khó khăn. Có lẽ, ông nói, vì mình sống thật tình đến cùng với bà con.
Ta biết ít ra một ví dụ về thành công này của Condominas, trong việc ông tìm ra được bộ đàn đá tiền sử đầu tiên trên thế giới… Đêm ở làng Sar Luk, như mọi đêm, sau một ngày sống và lao động cùng bà con, Condo ngồi hút rượu cần và rít tẩu thuốc với các già làng bên bếp lửa nhà sàn, lơ mơ ngủ, chợt thức dậy lại hút rượu và rít thuốc... lại lơ mơ ngủ, không hề để ý một thanh niên ngày hôm ấy được điều đi sửa con đường từ Sar Luk đi Đầm Ròn đang lầm rầm kể chuyện… Đang thiêm thiếp, chợt Condo giật mình thức dậy, hỏi: “Cậu vừa nói gì đấy? Nói lại xem!”. Lơ mơ ngủ nhưng ông vừa nghe được hai tiếng “mau prum”. “Nhắc lại đi!”, ông khẩn khoản. Vì, đã quên mình là người lạ, người Pháp, hết sức thông thạo đến ăn sâu trong máu thịt tiếng Mnông Gar, nhưng đồng thời ông vẫn là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo, để chỉ cần hai tiếng “mau prum” nghe như trong mơ đã đánh thức ngay nhà dân tộc học trong ông dậy.
“Mau prum” có nghĩa là đá Chàm. Và là nhà dân tộc học thành thạo, ông biết người Chàm chưa bao giờ đặt chân lên vùng đất Krông Nô này suốt lịch sử. Nghĩa là người thanh niên kia đã thấy một điều gì đó rất lạ mà anh ta không hiểu được trong ngày đi làm đường hôm nay. Anh kể: trong khi lao động sáng nay, các anh đã phá một ụ đất để nắn lại con đường trước đây bị uốn cong, và tìm thấy trong ấy mười một phiên đá lạ, rất dài, và người Mnông khi gặp bất cứ vật cổ nào mà họ không thể hiểu và họ tin là bí ẩn, thiêng liêng thì đều coi đó là của người Chàm xưa…
Sáng hôm sau Condo cùng người thanh niên đi đến hiện trường, quan sát kỹ, nhận ra đấy là những phiến đá đã được đẻo gọt bởi bàn tay con người, một vật cổ, có thể là tiền sử… Những phiến đá ở làng Dnut Lieng Krak, cách Sar Luk khoảng 10 km, được Condominas phát hiện năm 1949, gửi về viện Nhân chủng học Paris, được các chuyên gia nhân học, khảo cổ học, nhạc học nghiên cứu tỉ mỉ, xác nhận là một bộ đàn đá tiền sử (đúng ra là hai bộ, thiếu mất một thanh), cực kỳ đặc sắc, là bộ đàn đá tiền sử đầu tiên tìm được trên thế giới, có niên đại khoảng ba nghìn năm… Condominas rất ít khi nhắc lại chiến công khảo cổ học từng làm chấn động thế giới ấy của ông.
Ông chỉ nói: “Dân tộc học là một loại hình sống”, vậy thôi. Thế đấy!… Từ Sar Luk, Condominas mang về cho thế giới khoa học (và cả văn học) tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô”, ra mắt ở nhà xuất bản Mercure de France, nơi chỉ chuyên in tác phẩm văn học của những văn hào lớn như Verlaine và Rimbaud, và cuốn sách lập tức được nhà nhân học hàng đầu Claude Lévy-Strauss coi là “đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó với hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay”. Ít lâu sau, cuốn sách thứ hai về Sar Luk của ông ra đời, cũng hết sức độc đáo, cuốn “L’exotique est quotidien” (có thể dịch là “Kỳ lạ mỗi ngày”), bút ký tự thuật cảm động và uyên bác về sự nghiệp hay cuộc đời “dân tộc học là một loại hình sống” của ông…
Tôi thường tự hỏi, hẳn là một cách vớ vẩn, ông thuộc nền văn hóa nào, đông hay tây? Thật khó nói. Ông là một bậc hiền triết. Trong dân tộc học. Và giữa đời ngổn ngang. Nhìn ông mà xem, nhân hậu và hiền triết biết bao, khuôn mặt thân yêu ấy.
Hôm nay chúng ta tiễn đưa về cõi vĩnh hằng một nhà bác học lớn, một người bạn lớn của Việt Nam, đặc biệt của các dân tộc Tây Nguyên, người, tôi tin vậy, cho đến giờ phút cuối cùng vẫn không ngớt nổi nhớ dằng dặc và nổi lo đau đáu về Tây Nguyên của chúng ta, của ông. Vì Tây Nguyên đối với ông đã trở thành “một loại hình sống”.
Hãy yêu và lo như ông.
19-7-2011
11.4.11
12.2.11
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến từ trần

Nhà nghiên cứu, dịch giả Hoàng Ngọc Hiến đã từ trần hồi 23 giờ 30 đêm 24/1/2011 tại Hà Nội, hưởng thọ 81 tuổi.
GS. Hoàng Ngọc Hiến sinh ngày 21 tháng 7 năm 1930 (năm Canh Ngọ) tại Nam Định, Quê gốc: làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh.
Sau năm 1945, ông cùng gia đình đi tản cư kháng chiến, học trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng. Từ 1950 – 1957, ông dạy văn tại trường cấp III Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh).
Từ 1957 – 1959, ông là trợ lý khoa Văn Đại học Tổng hợp và Đại học Sư Phạm (lúc này hai trường chưa tách). 1959 – 1964, ông làm nghiên cứu sinh và bảo vệ thành công Tiến sĩ Văn học chuyên ngành lý luận, phê bình tại Đại học Lomonoxop, Liên Xô.
Ông đã từng dạy ở các trường Đại học Sư phạm Vinh, Đại học Văn hóa. Năm 1974, ông khởi xướng việc thành lập và là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du. Từ 1974 – 1991, ông đảm trách vai trò Chủ nhiệm Khoa Sáng tác Văn học của trường này.
Ông là đồng chủ bút với Huỳnh Sanh Thông, Trương Vũ ra tạp chí Vietnam Review (phát hành ở Mỹ trong 2 năm 1996, 1997). Ông cũng từng là cố vấn khoa học của Consult Invest Group.
Năm 2005, ông cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Minh triết Việt và là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của trung tâm này. Ông qua đời khi đang chủ trì đề tài khoa học: Minh triết trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản của GS. Hoàng Ngọc Hiến:
- “Ngọn gió thổi những chiếc lá bay qua đại dương”, Tập ký
- Maiacôpxki. Con người, cuộc đời và thơ (Khảo cứu. Tuyển dịch.1976)
- Maiacôpxki. Hài kịch. (dịch, 1984)
- Văn học Xô Viết đương đại (khảo cứu, 1987)
- Văn học - học văn (tiểu luận và phê bình, 1992)
- Văn học và học văn (tiểu luận và phê bình, 1997)
- Văn học gần và xa (tiểu luận, 2003, NXB Giáo dục)
- Triết lí văn hóa và triết luận văn chương (Khảo cứu, 2006)
- Những ngả đường vào văn học (2006)
- Văn hóa và văn minh - Văn hóa chân lý và văn hóa dịch lý (2007, NXB Đà Nẵng)
- Hoàng Ngọc Hiến. Tuyển tập chọn lọc (2008)
- Xác lập cơ sở cho đạo đức, Bàn về tính hiệu quả (dịch từ sách của Francois Jullien)
- Minh triết phương Đông và triết học phương Tây (Tuyển tập những công trình của nhà triết học đương đại Pháp F.Jullien, NXB Đà Nẵng, 2004)
GS. Hoàng Ngọc Hiến sinh ngày 21 tháng 7 năm 1930 (năm Canh Ngọ) tại Nam Định, Quê gốc: làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh.
Sau năm 1945, ông cùng gia đình đi tản cư kháng chiến, học trường trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng. Từ 1950 – 1957, ông dạy văn tại trường cấp III Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh).
Từ 1957 – 1959, ông là trợ lý khoa Văn Đại học Tổng hợp và Đại học Sư Phạm (lúc này hai trường chưa tách). 1959 – 1964, ông làm nghiên cứu sinh và bảo vệ thành công Tiến sĩ Văn học chuyên ngành lý luận, phê bình tại Đại học Lomonoxop, Liên Xô.
Ông đã từng dạy ở các trường Đại học Sư phạm Vinh, Đại học Văn hóa. Năm 1974, ông khởi xướng việc thành lập và là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du. Từ 1974 – 1991, ông đảm trách vai trò Chủ nhiệm Khoa Sáng tác Văn học của trường này.
Ông là đồng chủ bút với Huỳnh Sanh Thông, Trương Vũ ra tạp chí Vietnam Review (phát hành ở Mỹ trong 2 năm 1996, 1997). Ông cũng từng là cố vấn khoa học của Consult Invest Group.
Năm 2005, ông cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Minh triết Việt và là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của trung tâm này. Ông qua đời khi đang chủ trì đề tài khoa học: Minh triết trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản của GS. Hoàng Ngọc Hiến:
- “Ngọn gió thổi những chiếc lá bay qua đại dương”, Tập ký
- Maiacôpxki. Con người, cuộc đời và thơ (Khảo cứu. Tuyển dịch.1976)
- Maiacôpxki. Hài kịch. (dịch, 1984)
- Văn học Xô Viết đương đại (khảo cứu, 1987)
- Văn học - học văn (tiểu luận và phê bình, 1992)
- Văn học và học văn (tiểu luận và phê bình, 1997)
- Văn học gần và xa (tiểu luận, 2003, NXB Giáo dục)
- Triết lí văn hóa và triết luận văn chương (Khảo cứu, 2006)
- Những ngả đường vào văn học (2006)
- Văn hóa và văn minh - Văn hóa chân lý và văn hóa dịch lý (2007, NXB Đà Nẵng)
- Hoàng Ngọc Hiến. Tuyển tập chọn lọc (2008)
- Xác lập cơ sở cho đạo đức, Bàn về tính hiệu quả (dịch từ sách của Francois Jullien)
- Minh triết phương Đông và triết học phương Tây (Tuyển tập những công trình của nhà triết học đương đại Pháp F.Jullien, NXB Đà Nẵng, 2004)
Theo Nxb Tri Thức
3.12.10
Tủ sách Đường mòn lịch sử
30.11.10
Desmond Morris và "Vượn trần trụi"

Sinh năm 1928 tại Wiltshire (Anh), Desmond Morris là nhà động vật học, nhà phong tục học đồng thời là một họa sĩ theo trường phái siêu thực, một người dẫn chương trình truyền hình và tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Birmingham chuyên ngành động vật học, ông đạt được học vị tiến sĩ tại Đại học Oxford. Năm 1959, ông trở thành người phụ trách bộ phận động vật có vú tại Vườn thú London và giữ chức vụ này trong tám năm. Ông là tác giả của khoảng năm mươi bài báo khoa học và bảy cuốn sách trước khi hoàn thành cuốn Vượn trần trụi năm 1967, bán được hơn 10 triệu bản khắp thế giới và được dịch sang rất nhiều thứ tiếng. Trước đó, ông đã được công chúng biết đến từ những năm 50 của thế kỷ trước trong vai trò người dẫn dắt chương trình Zoo Time của kênh ITV và trở thành một trong số những người dẫn chương trình về lịch sử tự nhiên được biết đến nhiều nhất trên thế giới. Sau này ông thực hiện nhiều chương trình truyền hình và phim về tập tính của người và động vật.
Cách tiếp cận thân thiện, dễ hiểu khiến ông trở thành nổi tiếng với cả người lớn và trẻ em. Trong số loạt tác phẩm quen thuộc của ông có Theo dõi người, Theo dõi cơ thể, Theo dõi động vật và Theo dõi trẻ con… Ngoài ra, Desmond Morris còn là một họa sĩ tài ba với các tác phẩm Sinh học của nghệ thuật, Nghệ thuật Síp cổ đại và Người theo chủ nghĩa siêu thực bí mật và nhiều triển lãm cá nhân được tổ chức ở nhiều thành phố lớn của nước Anh và nước ngoài.
Desmond dành nhiều thời gian du lịch vòng quanh thế giới để nghiên cứu, tìm hiểu về sách và các chương trình truyền hình. Hiện “gia tài” của Desmond Morris bao gồm 70 đầu sách được xuất bản, trong đó đa phần là sách nghiên cứu; hàng trăm bài báo đăng tải liên tục từ năm 1962 cho đến nay, hàng chục kịch bản chương trình truyền hình cho các kênh nổi tiếng như BBC, Granada TV, CBS Network và các giải thưởng truyền hình lớn vào các năm 1990 và 1995.
---
Vượn trần trụi là tên chung bộ ba tác phẩm của Desmond Morris với mục đích rõ ràng: nghiên cứu dưới góc độ động vật học về con vật người.
Con người với tư cách là loài thống lĩnh Trái đất từ xưa đã có xu hướng thần thánh hóa nguồn gốc bản thân. Ngay cả khi đã chấp nhận loài người do loài vượn tiến hóa mà thành thì việc nhìn thẳng và phân tích mổ xẻ vấn đề này một cách “trần trụi” vẫn không dễ chấp nhận. Vào thời điểm ra đời năm 1967, cuốn sách đã tạo nên một cú sốc lớn nhưng từ đó đến nay đã có hơn 10 triệu bản Vượn trần trụi được bán trên toàn thế giới. Quãng thời gian hơn 40 năm có thể khiến chúng ta bớt rụt rè hơn khi đề cập đến bản tính sinh vật của mình, nhưng không có nghĩa là bản tính đó đã thay đổi chút nào.
Vượn trần trụi là một bảng tổng kết khái quát, nhưng cũng chi tiết đến tận cùng, khi so sánh song song con vượn và con người. Thực tế, vượn trần trụi vẫn là loài vượn, đã sống và phát triển trên Trái đất cùng với các sinh vật khác, dù đã trở nên thông minh hơn cả và xây dựng được lớp vỏ bọc tinh vi hơn cả, nó vẫn được thúc đẩy bởi các tham vọng và nỗi sợ hãi từ cổ xưa. Những điểm mà chúng ta tự hào như làn da, khuôn mặt, tiếng nói hay dáng người đều xuất hiện vì sự sinh tồn. Sự biến mất của bộ lông cũng liên quan mật thiết đến sinh tồn: vệ sinh, sưởi ấm, kích thích tình dục… Thậm chí con người đã bỏ đi những ưu điểm của loài vượn để tiến hóa nhanh hơn. Sự trả giá cũng là phần thưởng, và khó khăn sẽ dẫn tới những tiến bộ vượt bậc.
Không hề bị sao lãng bởi sự lãng mạn hóa khi nhìn nhận về con vượn trần trụi, Desmond Morris chỉ ra rằng các hành vi kết đôi, giao phối, nuôi nấng con cái, khám phá, tranh đấu… về cơ bản không khác về mục đích và cách tiến hành so với loài vượn thông thường. Ngay cả tiếng khóc, tiếng cười, những âm thanh, tín hiệu cơ bản nhất, chuyển động cơ bản nhất cũng như những mục tiêu lớn nhất của đời sống đều không thay đổi quá nhiều qua suốt hàng triệu năm. Các dạng thức văn minh đều bắt đầu từ những xung động nguyên thủy: tinh tinh xoa dịu tình hình bằng cách chìa tay về phía đối phương, còn con người đã phát triển hành động này thành cái bắt tay thân thiện; các phường hội, nghiệp đoàn, câu lạc bộ thể thao, hội kín, các băng nhóm thiếu niên… đều xuất phát từ nhu cầu của đàn ông cần tụ tập thành nhóm để đi săn khi vượn chuyển dần thành động vật ăn thịt…
Việc so sánh song song con người và con vượn làm nổi bật những nét thú vị và bất ngờ. Chúng ta thường tò mò trước những thứ bất thường, nhưng điều bình thường nhất là cơ thể là thói quen sinh hoạt của chính chúng ta lại tạo ra sự ngạc nhiên to lớn, nếu nhìn nhận một cách thấu đáo. Tập tính xã hội và văn hóa phức tạp có thể che đậy trên bề mặt chứ không che đậy được bản chất. Vô số biểu tượng, thói quen trong đời sống của con người chỉ có thể hiểu được nếu truy nguyên về nguồn gốc động vật. Những cử chỉ như gõ ngón tay, gãi đầu, đỏ mặt khi tức giận… cứ tự động xuất hiện khi ta không để ý, cho thấy sự gần gũi với các loài linh trưởng. Trong những hoàn cảnh căng thẳng hay nguy hiểm, để bảo vệ, khám phá hoặc tranh đoạt, chúng ta không khác gì những con tinh tinh đang giận dữ. Khi một bà vợ đập tan cái bình thì tất nhiên cái bình tượng trưng cho cái đầu chồng bà ta bị vỡ thành từng mảnh nhỏ, vì tinh tinh và gôrila cũng thường xuyên nhổ bật, đập và ném lung tung các cành cây, để tạo ấn tượng thị giác khi chuyển hướng các hành động gây hấn, và “các trí thức điềm đạm nhất cũng thường xuyên trở nên hung hăng hơn hẳn khi thảo luận về nhu cầu cấp thiết phải ngăn chặn sự hung hãn”.
Mặc dù là nghiên cứu khoa học, nhưng Vượn trần trụi không hề khô khan, nặng nề, khó hiểu. Thông qua một loạt các ví dụ hài hước và xác đáng, Desmond Morris tạo nên một cuốn sách dành cho mọi tầng lớp và lứa tuổi. Những sự thật hiển nhiên và lối tiếp cận bình đẳng giữa con vượn và con người cho thấy không có gì cao quý vượt bậc trong những thành tựu mà con người tự hào: lập gia đình, đấu tranh để vươn lên, làm nghệ thuật, sáng tạo khoa học… Tất cả chỉ là để thỏa mãn các xung động nguyên thủy của loài vượn. Tuy nhiên, cũng không có gì giống với sự hạ thấp trong cách tiếp cận đó. Con người cần hiểu rõ bản thân mình, như một loài vượn trần trụi dũng cảm, không có yếu tố thần thánh và không có mục đích siêu nhiên, rời bỏ những khu rừng địa đàng của loài vượn để lựa chọn chinh phục mặt đất, xây dựng nên những gì chúng ta đang có ngày nay.
“Và thế là vượn trần trụi vươn mình đứng dậy, một loài Vượn trần trụi đứng thẳng, đi săn, mang vũ khí, chiếm giữ lãnh thổ, kéo dài tình trạng thơ ấu, có trí óc, một linh trưởng theo nguồn gốc tổ tông và một động vật ăn thịt theo sự tự chọn, đã sẵn sàng chinh phục thế giới” - đó đơn giản là lời đánh giá trân trọng dành cho loài người, với tư cách là những đứa con của Trái đất.
Theo Thông cáo báo chí của Nhã Nam
5.11.10
Nghệ thuật Huế (L’art à Húe) - quyển sách cổ tuyệt đẹp gần trăm năm trước

bài trên blog của bác saigon61
Có dăm câu chuyện chung quanh cuốn Nghệ thuật Huế (L’art à Húe) nổi tiếng này dù không phải ai trong giới chơi sách cũng biết. Được xuất bản chính thức 2 lần năm 1919 và 1930 (Tân bản - Nouvelle Edition), quyển sách Nghệ thuật Huế là một trong những đặc san chuyên khảo nằm trong bộ Tập san Đô thành Hiếu cổ (BULLETIN DES AMIS DU VIEUX HUẾ) (*).
Quyển sách này đến nay vẫn được giới chơi sách săn lùng cùng với quyển Musée Khai Dinh (Bảo tàng Khải Định) là một sách chuyên khảo khác cùng nơi xuất bản.
Trong quyển Thú chơi sách, Vương Hồng Sển kể lại một câu chuyện mà ông cảm thấy đau lòng. Ông có đủ các quyển Đặc san của bộ báo là hai quyển nói trên cùng quyển Khảo về nha phiến (L’ Opium). Do rất thích chúng nên ông đóng bìa đỏ có mạ vàng cẩn thận. Đến năm loạn lạc 1945, khi ông chạy vào làng Hòa Tú ở Sóc Trăng, lính Tây bắn phá khiến cả nhà lại chạy vào rừng. Đến khi quay trở về, tủ sách của ông bị lục phá tơi bời, sách bị nông dân xé lấy giấy để hút thuốc. Ông khổ tâm nhất là thấy mấy thanh niên tá điền mang theo túi da còn rành rành tựa ba cuốn sách mà ông cưng nhất nói trên.
Dù sao, khác với bộ Kỹ thuật của người Annam xưa của Henri Oger in trên giấy dó vô cùng hiếm hoi vừa được in lại, bộ Nghệ thuật Huế không đến nỗi hiếm. Nó có mặt trong một số tủ sách nổi tiếng ở Huế, Sài Gòn v.v…
Quyển xuất bản đầu tiên năm 1919 khó tìm trong nước nhưng vẫn có thể tìm ở các nhà buôn sách hiếm nổi tiếng trên thế giới, nhất là ở Pháp. Quyển Tân bản xuất bản năm 1930 trên Internet ghi giá hơn 1000 USD. Có một bản in thứ ba, trên một diễn đàn bán sách xưa trong nước có người rao bán chỉ vài trăm nghìn đồng. Bản này là sách copy. So với bản 1930, nó giống một tám một mười, in đẹp, hình ảnh rõ ràng. Thông tin từ giới chơi sách cho biết bản này do ông L.T.T, chủ một nhà sách nổi tiếng thập niên 60 thế kỷ trước, thực hiện tại Việt Nam cách nay chỉ dăm năm. Anh bạn tôi mua qua Internet một quyển giống y chang từ Bỉ (Hiệu sách Librairie Yves Deprins) với giá hơn trăm USD một chút. Quyển này ắt xuất phát từ Việt Nam.
Đọc bản dịch sang tiếng Việt của quyển Nghệ thuật Huế ( Nhà xuất bản Thuận Hóa), chúng ta bắt gặp bài thơ của V. Muraire khá cảm xúc, có những câu:
Giữa các màu xanh cổ, cẩn xà cừ ngà voi
Một ông quan thất vận đọc lại pho sách cũ
Ông ngâm nga thời qua, thời oanh liệt ngày trước…
Bài thơ mở đầu thật cuốn hút, báo trước nội dung hấp dẫn của quyển sách. Quả thật, nó có nhiều bài viết hay về nghệ thuật Huế và tranh vẽ khiến người xem mê mẩn. Hầu hết bài viết đều của Linh mục Léopold Cadière và có duy nhất một bài do một người Pháp khác tên là Edmond Gras viết. Bản 1930 có 222 phụ bản (có một số là hình màu) rất đẹp, rất có ích cho ai nghiên cứu hay muốn tìm hiểu về mỹ thuật Huế trong kiến trúc và mỹ thuật đầu thế kỷ 20, và 167 trang viết (Bản 1919 chỉ có 157 trang viết).
Đầu trang sách là lời đề tặng cựu Toàn Quyền Đông Dương lúc đó đang là Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa là Albert Sarraut, Vua Khải Định và cho M.J.E. Charles, cựu Công Sứ ở Trung Kỳ. Về nội dung, mở đầu là bài Mỹ thuật ở Huế nêu cái nhìn tổng quan của L.M Cadìere. Sau đó là bài về Thành phố, nhà cửa, bàn ghế, hàng thêu… của E. Gras.
Sau bài đó là các bài của ông Cadìere bao gồm: Các mô típ trang trí có tích hình học, Mẫu chữ Hán, Tĩnh vật, Hoa và lá, cành và quả, Động vật, Điêu khắc và Phong cảnh. Các hình được vẽ tỉ mỉ, màu sắc từng bức tranh màu quá đẹp được thể hiện dù từ hơn chín mươi năm qua vẫn đủ hấp dẫn người xem, tạo được ấn tượng mạnh mẽ về sự tinh tế của nghệ thuật chạm khắc, hội họa thời nhà Nguyễn qua bàn tay nghệ nhân xứ Huế và cả nước tập trung về kinh đô đầu thế kỷ 20.
Hình ảnh kèm theo bài chụp từ ấn bản L’Art à Húe in năm 1930. So với bản copy được làm sau này, giấy của bản gốc dày hơn, cứng cáp hơn và đương nhiên in ấn hình ảnh sắc sảo hơn. Sách được đóng bìa cứng, gáy đóng bằng da trừu mịn màng theo kiểu xưa. Phía trong bìa sau còn dán tờ hóa đơn màu hồng của Nhà Morin Frères d’ Annam rất nổi tiếng (kinh doanh chính là khách sạn ở Huế và Đà Nẵng đầu thế kỷ 20). Hóa đơn ghi rõ bán tại Huế 20 tháng 1 năm 1942 theo chi phiếu số 153 của người mua với giá 5,5 đồng bạc Đông Dương. Bên cạnh hóa đơn có dán nhãn tên nhà đóng sách Nguyen - Van - Chau, ở số 159 phố Douaumont Saigon (nay là đường Cô Giang, quận I) cùng một địa chỉ khác ở Pnom Pênh.
Quyển sách được xuất bản ở Huế, trôi dạt sang Pháp và cuối cùng đã trở về chính quán của mình, sau nửa thế kỷ tha hương có lẽ.
Đăng trên tạp chí Nội Thất (bút danh Đăng Thuyên)
(*) Tập san Đô thành Hiếu cổ do một số quan cai trị người Pháp, các giáo sĩ và các giáo sư, cả Pháp lẫn Việt viết . Chủ đề các bài trong Tập xoay quanh Cố đô Huế xưa và về Triều đình nhà Nguyễn và bộ tập san này cũng nổi tiếng trên thế giới. Tập san ra được đúng 31 năm, từ 1914 tới 1944 và trở thành tài liệu nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới. Nhà xuất bản Thuận Hóa những năm gần đây đã dịch sang tiếng Việt một số tập.
>> L'art à Hué
25.10.10
L'art à Hué
May mắn sao lại có được cuốn L'art à Hué, chưa kiểm tra xem là bản in năm nào (1919 hay 1930). Trích một đoạn thơ trong sách:
Toàn màu xám, bất động, những đồi xanh cồn cát.
Mang trong sóng xao những tiếng hát anh lái đò.
Dòng sông Hương dưới những dãy tường thành trân trọng
Chiếu hình nghiêng bóng dáng Kỳ đài...
(Huế, V.Muraire, bản dịch in trong Những người bạn cố đô Huế, tập VI-A, Nxb Thuận Hóa, 1998)
Toàn màu xám, bất động, những đồi xanh cồn cát.
Mang trong sóng xao những tiếng hát anh lái đò.
Dòng sông Hương dưới những dãy tường thành trân trọng
Chiếu hình nghiêng bóng dáng Kỳ đài...
(Huế, V.Muraire, bản dịch in trong Những người bạn cố đô Huế, tập VI-A, Nxb Thuận Hóa, 1998)
12.8.09
Chúng tôi ăn rừng


- Cuốn bút ký Chúng tôi ăn rừng của Georges Condominas, NXB Thế Giới, quý IV.2008.
- Cuốn "Chúng tôi ăn rừng..." Georges Condominas ở Việt Nam, NXB Thế Giới, quý IV.2007. Cuốn này được xuất bản nhân trưng bày "Chúng tôi ăn rừng..." Georges Condominas ở Sar Luk từ ngày 11.12.2007 đến 16.3.2008 tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.
Người Mnông Gar, cũng như phần lớn những người miền núi Tiền - Đông Dương, "ăn rừng", theo cách nói của họ, nghĩa là họ canh tác bằng cách đốt rẫy. Georges Condominas đã đến với dân làng Sar Luk ở Tây Nguyên chia sẻ cuộc sống cùng họ trong suốt một năm tương đương ứng với một chu kỳ nông nghiệp trọn vẹn và đã mô tả lại trải nghiệm đó của ông trong cuốn sách này. Từ cuộc hiến tế trâu trong đám tang của Taang-Jieng-Còng, đám cưới của Jaang, vụ tự tử của anh chàng Tieng đẹp trai, đến Lễ Đất lớn, ta cùng sống với ông cho đến khi kết thúc năm Đá-Thần Gôo...
Khi cuốn sách này ra đời, nhà dân tộc học nổi tiếng Claude-Lévi Strauss đã nồng nhiệt chào mừng: "Chúng tôi ăn rừng đã đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó và hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay".
Đặc biệt, ngoài tác phẩm bút ký hấp dẫn này, những tư liệu của tác giả trong thời gian sống ở làng Sar Luk gồm sổ ghi chép, ký họa, từ vựng, ảnh chụp và hơn 500 hiện vật về sinh hoạt thường ngày của đồng bào Mnông Gar đã được lưu giữ ở Bảo tàng Quai Branly (Paris). Cuối năm 2007, những tư liệu quý giá đó đã quay trở lại Việt Nam trong cuộc trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học (Hà Nội), để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem và thôi thúc nhiều người tìm đọc lại tác phẩm nổi tiếng Chúng tôi ăn rừng. Sách đã được dịch ra tiếng Việt, Ý, Nga, Đức, Anh, Nhật, Hung và tái bản nhiều lần tiếng Pháp.
Georges Condominas sinh năm 1921 tại Hải Phòng, tiến sĩ văn học và khoa học nhân văn. Giám đốc Trung tâm tư liệu và nghiên cứu Đông Nam Á và khu vực Nam Đảo, Chủ tịch Ban Nhân học, Dân tộc học, Tiền sử học của Ủy ban quốc gia nghiên cứu khoa học - Phó Chủ tịch của Liên hiệp quốc tế các khoa học Nhân học và dân tộc học. Giáo sư thỉnh giảng tại một số trường ĐH ở Mỹ, Úc, Nhật Bản...
Đề tài nghiên cứu chính: dân tộc học và từ vựng học những nhóm Nam Á thuộc Tây Đông Dương, đặc biệt người Mnông Gar ở Trung Bộ, Xã hội học về tôn giáo dân gian Lào, Dân tộc học về Madagascar. Tác phẩm: Chúng tôi ăn rừng Đá - Thần Gôo (1957); Fokon'olona và những tập thể nông thôn ở Imerina (1960); Cái lạ là cái hàng ngày (1965); Không gian xã hội (1980); Đạo Phật ở làng (1998)...
1.7.09
Kỹ thuật của người An Nam

Cuối cùng thì đến hôm nay 1.7, mới mua được cuốn sách quý này (500 nghìn, giảm được 100 nghìn so với giá bìa). Mấy bữa trước định mua rồi nhưng loạt sách đó không được đẹp lắm do hộp bị móp, gáy sách bị rách chút ít... mà mình thì lại thích những cuốn thật hoàn hảo.
Vậy là đợi đến hôm nay mới thấy sách về nhiều, tha hồ lựa một bộ không tì vết...
Bữa trước có coi sơ qua rồi, thật là hay nhưng in ấn không được đẹp lắm, hình ảnh hơi mờ mà cuốn này lại cần đặc biệt chú trọng đến hình ảnh (sách ảnh mà!)... tiếc chút ít...
Bữa trước có coi sơ qua rồi, thật là hay nhưng in ấn không được đẹp lắm, hình ảnh hơi mờ mà cuốn này lại cần đặc biệt chú trọng đến hình ảnh (sách ảnh mà!)... tiếc chút ít...
16.6.09
Đợi một cuốn sách quý
Mấy bữa nay cứ chờ đợi hoài, số là cuốn Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger đã được in lại vừa phát hành. Tuy nhiên ở miền Nam chỉ có được một vài bộ. Theo một người bạn làm ở Nhã Nam (công ty tham gia xuất bản cuốn này) thì trong một vài tuần tới, bộ sách này (gồm 3 tập, giá 600.000 đồng) sẽ được bán rộng rãi hơn. Vậy thì đợi tiếp thôi...
Còn cuốn Ký họa VN đầu thế kỷ 20 của ông Nguyễn Mạnh Hùng (NXB Trẻ) thì hiện nay khá hiếm, hình ảnh in đẹp, hôm qua tiệm sách cũ "hét" đến 350.000 đồng. Đến khi sách tái bản của Henri Oger phát hành rộng thì cuốn này chắc sẽ hạ thôi...
Về Nhà nghiên cứu Henri Oger và tác phẩm Kỹ thuật của người An Nam:
Tác giả Henri Oger, người Pháp, đậu Tú tài năm 1905 khi vừa tròn 20 tuổi. Sau đó, ông theo học tại các trường L’Ecole Coloniale, L’Ecole Pratique des Hautes études, rồi làm quản lý viên trong Cơ quan Hành chính Dân sự của chính quyền Đông Dương.
Năm 1908-1909, ông sang Việt Nam, tham gia nghiên cứu những thao tác và nghề thủ công của người Việt Nam để xây dựng, thống kê các thuật ngữ kỹ thuật, sau đó nghiên cứu sâu về gia đình người Việt. Cuộc sống với những nét văn hóa nơi đây đã có sức lôi cuốn đặc biệt với Henri.
Dự án quan trọng nhất mà ông có dịp tham gia là dự án Nghiên cứu thực địa về nền Văn minh Vật chất của người Việt Nam và các khía cạnh về xã hội học, một lĩnh vực khi đó có rất ít người “nhúng tay” vào.
Trong hai năm 1908-1909, Henri đã cùng một họa sĩ người Việt đi khắp các phố phường Hà Nội và vùng ngoại ô để thống kê và tìm hiểu rõ sự đa dạng của các ngành công thương nghiệp, phác họa lại những hình ảnh phản ánh đời sống của người dân từ sản xuất, buôn bán đến vui chơi, tập tục…
Henri làm việc với thái độ nghiêm túc, cẩn thận, đảm bảo tính trung thực, chính xác. Sau khi phác họa tranh xong, Henri mời người dân kiểm tra lại trước khi chuyển đến cho những người thợ khắc gỗ ở Hà Nội thực hiện.
Bằng tất cả niềm yêu thích, hứng thú với công việc, chàng trai người Pháp không ngại khó, cuối cùng đã cho ra đời quyển sách “Kỹ thuật của người An Nam”. Tác phẩm được xuất bản thành hai phần:
- Phần đầu là các bức tranh với nội dung rất phong phú, thẫm đậm chất dân gian như những bức ký họa: “Trị mụt mắt”, “Đánh vợ”, “Đám rước”, “Dựng nêu đón Tết”, “Thiến trâu”, “Chọi gà”, “Dạy con”, “Thầy đồ”, “Cất vó”, “Cắt cỏ tranh”,… tất cả đều được đánh số thứ tự rõ ràng trên tranh.
- Phần hai là tài liệu do Henri Oger quan sát, ghi chép lại, được chia thành bốn chương: những kỹ thuật khai thác nguyên vật liệu từ thiên nhiên; chế biến, gia công; sử dụng nguyên vật liệu đã được gia công, chế biến và đời sống cá nhân và tập thể của người Việt Nam.
Do thiên về tính kỹ thuật và không chú ý đến việc phổ biến, từ khi xuất bản, tác phẩm của Henri Oger không được mấy người biết đến và bị lãng quên. Mãi đến năm 1978, công trình này mới được nhắc tới tại một cuộc triển lãm ở Pháp với tên gọi “Những họa sĩ nông dân của Việt Nam”.
Ngày nay, tác phẩm của ông đã được nhìn nhận, trả lại đúng vị trí của nó. Cùng với thời gian, ông đã làm được việc ý nghĩa là lưu giữ lại những dấu ấn đời sống, kỹ thuật của người Việt Nam.
Tác phẩm được các chuyên gia của Viện Viễn Đông Bác Cổ đánh giá là công trình đầu tiên về nhân học kỹ thuật ở miền Bắc Việt Nam và thực sự trở thành mối quan tâm của giới khoa học hay những ai muốn nghiên cứu hay khám phá đời sống của người Việt Nam xưa.
Hiện chỉ còn 3 nơi giữ được bản gốc của tác phẩm, đó là: một bản ở thư viện Khoa học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh; một bản ở Pháp và một bản ở Tổng Lãnh sứ quán Hà Lan.
Năm 2007, Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) tại Hà Nội hợp tác với thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh tái bản toàn bộ tác phẩm ra ba thứ tiếng, dưới dạng sách và ấn phẩm điện tử, được dịch ra chữ quốc ngữ những chú thích viết bằng chữ Hán Nôm, với mong muốn mang đến một cuộc sống mới cho công trình tư liệu gốc trước đây.
Còn cuốn Ký họa VN đầu thế kỷ 20 của ông Nguyễn Mạnh Hùng (NXB Trẻ) thì hiện nay khá hiếm, hình ảnh in đẹp, hôm qua tiệm sách cũ "hét" đến 350.000 đồng. Đến khi sách tái bản của Henri Oger phát hành rộng thì cuốn này chắc sẽ hạ thôi...
Về Nhà nghiên cứu Henri Oger và tác phẩm Kỹ thuật của người An Nam:
Tác giả Henri Oger, người Pháp, đậu Tú tài năm 1905 khi vừa tròn 20 tuổi. Sau đó, ông theo học tại các trường L’Ecole Coloniale, L’Ecole Pratique des Hautes études, rồi làm quản lý viên trong Cơ quan Hành chính Dân sự của chính quyền Đông Dương.
Năm 1908-1909, ông sang Việt Nam, tham gia nghiên cứu những thao tác và nghề thủ công của người Việt Nam để xây dựng, thống kê các thuật ngữ kỹ thuật, sau đó nghiên cứu sâu về gia đình người Việt. Cuộc sống với những nét văn hóa nơi đây đã có sức lôi cuốn đặc biệt với Henri.
Dự án quan trọng nhất mà ông có dịp tham gia là dự án Nghiên cứu thực địa về nền Văn minh Vật chất của người Việt Nam và các khía cạnh về xã hội học, một lĩnh vực khi đó có rất ít người “nhúng tay” vào.
Trong hai năm 1908-1909, Henri đã cùng một họa sĩ người Việt đi khắp các phố phường Hà Nội và vùng ngoại ô để thống kê và tìm hiểu rõ sự đa dạng của các ngành công thương nghiệp, phác họa lại những hình ảnh phản ánh đời sống của người dân từ sản xuất, buôn bán đến vui chơi, tập tục…
Henri làm việc với thái độ nghiêm túc, cẩn thận, đảm bảo tính trung thực, chính xác. Sau khi phác họa tranh xong, Henri mời người dân kiểm tra lại trước khi chuyển đến cho những người thợ khắc gỗ ở Hà Nội thực hiện.
Bằng tất cả niềm yêu thích, hứng thú với công việc, chàng trai người Pháp không ngại khó, cuối cùng đã cho ra đời quyển sách “Kỹ thuật của người An Nam”. Tác phẩm được xuất bản thành hai phần:
- Phần đầu là các bức tranh với nội dung rất phong phú, thẫm đậm chất dân gian như những bức ký họa: “Trị mụt mắt”, “Đánh vợ”, “Đám rước”, “Dựng nêu đón Tết”, “Thiến trâu”, “Chọi gà”, “Dạy con”, “Thầy đồ”, “Cất vó”, “Cắt cỏ tranh”,… tất cả đều được đánh số thứ tự rõ ràng trên tranh.
- Phần hai là tài liệu do Henri Oger quan sát, ghi chép lại, được chia thành bốn chương: những kỹ thuật khai thác nguyên vật liệu từ thiên nhiên; chế biến, gia công; sử dụng nguyên vật liệu đã được gia công, chế biến và đời sống cá nhân và tập thể của người Việt Nam.
Do thiên về tính kỹ thuật và không chú ý đến việc phổ biến, từ khi xuất bản, tác phẩm của Henri Oger không được mấy người biết đến và bị lãng quên. Mãi đến năm 1978, công trình này mới được nhắc tới tại một cuộc triển lãm ở Pháp với tên gọi “Những họa sĩ nông dân của Việt Nam”.
Ngày nay, tác phẩm của ông đã được nhìn nhận, trả lại đúng vị trí của nó. Cùng với thời gian, ông đã làm được việc ý nghĩa là lưu giữ lại những dấu ấn đời sống, kỹ thuật của người Việt Nam.
Tác phẩm được các chuyên gia của Viện Viễn Đông Bác Cổ đánh giá là công trình đầu tiên về nhân học kỹ thuật ở miền Bắc Việt Nam và thực sự trở thành mối quan tâm của giới khoa học hay những ai muốn nghiên cứu hay khám phá đời sống của người Việt Nam xưa.
Hiện chỉ còn 3 nơi giữ được bản gốc của tác phẩm, đó là: một bản ở thư viện Khoa học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh; một bản ở Pháp và một bản ở Tổng Lãnh sứ quán Hà Lan.
Năm 2007, Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) tại Hà Nội hợp tác với thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh tái bản toàn bộ tác phẩm ra ba thứ tiếng, dưới dạng sách và ấn phẩm điện tử, được dịch ra chữ quốc ngữ những chú thích viết bằng chữ Hán Nôm, với mong muốn mang đến một cuộc sống mới cho công trình tư liệu gốc trước đây.
(TTXVN)
Subscribe to:
Posts (Atom)













