Showing posts with label Văn học Nhật Bản. Show all posts
Showing posts with label Văn học Nhật Bản. Show all posts

4.5.11

Rừng Na Uy


"Tôi trông cửa hàng từ sáu giờ đến mười rưỡi và bán được mấy bộ đĩa, nhưng chủ yếu tôi chỉ ngồi ngây ra đó, nhìn dòng người khác nhau đến kỳ lại đi như nước chảy ở ngoài phố. Có người đi cả nhà và có những cặp đôi, có những đám say rượu và những bọn du côn, có những cô gái váy ngắn rất sinh động và những dân hippy râu dài, có những chị bán bar và những người không biết thuộc loại gì. Khi tôi vặn nhạc rock hạng nặng, dân hipy và đám trẻ bỏ nhà đi bụi sẽ tụ tập bên ngoài tiệm để nhảy nhót và hít dầu pha sơn hoặc ngồi thẩn ra đó, còn khi tôi văn Tony Bennett thì bọn họ sẽ tản đi hết.

Bên cạnh là một cửa hàng bán "đồ chơi người lớn" của một lão trung niên có cặp mắt ngái ngủ. Tôi không thể tưởng tượng ai là ngưởi sẽ mua những phụ tùng tình dục mà lão bày bán ở đó, nhưng hình như cửa hàng của lão đang phất như diều thì phải. Trong ngõ bên kia đường hơi cheo chéo cửa hàng, tôi thấy một sinh viên say rượu đang nôn ọe. Còn cũng bên kia đường mà chếch về phía này thì có một hàng chơi game, và một người đầu bếp của tiệm ăn gần đó đang tiêu giờ giải lao với trò bingo phải đặt cọc bằng tiền mặt. Dưới mái hiên một nhà hàng đã đóng cửa, một gã vô gia cư đen đủi đang nằm bất động, Một con bé bôi môi hồng nhạt trông chưa đến mười hai hoặc mười ba bước vào và xin tôi bật bài "jumpin' Jack Flash" của nhóm Rolling Stone. Khi tôi tìm thấy cái đĩa đó và vặn nó lên thì con bé bắt đầu búng ngón tay theo nhịp và ngoáy đít nhảy quanh trong tiệm. Rồi nó hỏi xin tôi một điếu thuốc lá. Tôi cho nó một điếu lấy của ông chủ, và con bé rít lấy rít để đầy vẻ biết ơn. Khi đĩa đã chạy hết, nó bỏ đi mà chẳng thèm có một cử chỉ nào gọi là "cảm ơn". Cứ độ mười lăm phút tôi lại nghe tiếng còi của xe cứu thương hoặc xe cảnh sát. Ba ông chủ sự công ty say mèm vẫn đóng bộ comlê cà-vạt đang khật khưỡng qua trước cửa, và cứ mỗi lần đồng thanh hô lớn "Đít đẹp!" về phía một cô gái tóc dài rất xinh đang đứng trong trạm điện thoại, họ lại phá lên cười với nhau đến thất thanh.

Càng quan sát, tôi càng thấy hoang mang. Tất cả có nghĩa gì đây? tôi tự hỏi. Có thể có nghĩa gì được đây?"

Ngoài những đoạn miêu tả tình dục thì những câu trên của Rừng Na Uy khiến tôi rất thích. Nó làm cho sự trống trải, bất lực trước cuộc đời từ thuở mới lớn cho đến hiện tại càng thêm sống động. Chính vì vậy mà tôi thích đọc Rừng Na Uy, mỗi lần đọc lại cuốn truyện này là mỗi lần tôi thấy như được trở lại với chính mình, trở lại với tâm trạng ngổn ngang và đầy hứng thú, trở về với bản ngã cá nhân một thời chất chứa đầy những tư duy hiện sinh và những con đường minh triết...

Nhiều lúc tôi tự hỏi mình đã làm gì thế này với cuộc đời mình, rốt cuộc rồi tôi cũng chỉ còn lại là một người cần mẫn sớm tối để chết dần mòn trong sự bất lực. Và những lúc như thế, những cuốn sách như Rừng Na Uy như khơi dậy lòng nhiệt huyết bị dìm sâu trong tâm hồn tôi lên chút ít để cho tâm hồn tôi tiếp tục được nung nấu bởi các khả năng sắp thành...

19.3.11

Phim "Rừng Na Uy"







Vừa xem xong cuốn phim này, vẫn thấy đây thực là một phim hay, đáng xem mặc dù trước đó cũng có nhiều lời phê bình chê nó không đạt khi vừa được trình chiếu tại VN. Tất nhiên là điện ảnh và văn học có những thủ pháp nghệ thuật khác nhau để lôi cuốn người xem, vì vậy không thể đỏi hỏi hơn nữa khi "Rừng Na Uy" của Trần Anh Hùng không phải hoàn toàn là "Rừng Na Uy" của Murakami. Điện ảnh không có được nhiều cách hiểu đa chiều, cách tiếp nhận cá nhân của người đọc như đối với một tác phẩm văn học. Sự tưởng tượng của người xem điện ảnh đâu thể bằng sự tưởng tượng, đặt mình vào bối cảnh của tác phẩm văn học. Ví dụ như ở phần kết, nụ cười của Midori trong phim giúp người xem dễ dàng hình dung được ý đồ của đạo diễn khi đóng lại bộ phim này, trong khi trong truyện thì nụ cười ấy chỉ có thể có trong tưởng tượng của người đọc, hoặc là cũng có thể không có và cái kết ấy thì không được xác định rõ...

KENICHI MATSUYAMA - trong vai Watanabe Toru: Nam diễn viên trẻ tuổi sinh năm 1985, tại Aomori, Nhật Bản. Anh được biết đến qua các vai diễn "khác thường", cá tính đặc biệt. Tuổi đời và tuổi nghề còn rất trẻ nhưng Matsuyama đã giành được nhiều giải thưởng danh giá: giải thưởng Nam diễn viên mới xuất sắc nhất của Viện Hàn lâm Nhật Bản (2005), Giải thưởng Hochi Film và Yokohama của liên hoan phim trong nước, đặc biệt là giải thưởng nam diễn viên xuất sắc tại liên hoan phim Châu Á năm 2009 trong bộ phim Detroit Metal City.Vào vai chàng trai Watanabe với đời sống nội tâm phức tạp, nhiều mâu thuẫn giằng xé là một trải nghiệm vai diễn mới của diễn viên trẻ Matsuyama. Trong bài trả lời phỏng vấn, Matsuyama chia sẻ: “Đây là vai diễn có sức nặng rất lớn bởi Watanabe bị kéo theo hai hướng ngược nhau: giữa sự sống và cái chết, giữa quá khứ và tương lai. Để nhập được vào vai diễn này, trong những cảnh quay của tôi và nhân vật Naoko, tôi cảm thấy rõ nét nỗi khổ đau, trong những cảnh quay với Midori, tôi có thể cảm thấy trái tim Watanabe được thổi đầy niềm vui với cô ấy. Sự chia sẻ của đạo diễn cũng đã giúp tôi hoàn thành tốt vai diễn của mình”.

RINKO KIKUCHI - trong vai Naoko: Sinh năm 1981 tại Kanagawa, Kikuchi tham gia vai diễn đầu tiên trong phim Will to live (1999). Năm 2006, trong vai nữ sinh trung học khiếm thính trong bộ phim Babel, của đạo diễn Alejandro González Iñárritu, cô đã được đề cử vào giải thưởng Oscar lần thứ 79 cho hạng mục Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Cô cũng giành được đề cử cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại Quả cầu vàng và là Người phụ nữ của năm 2006. Nhân vật Naoko trong bộ phim Rừng Na Uy là một vai diễn khó, đầy thử thách với Kikuchi. Naoko yêu Kizuki tận đáy lòng mà không thể đón nhận người tình. Với Watanabe, cô mong mỏi Watanabe có thể là điểm tựa để níu giữ cô ở lại với cuộc đời mà thất bại. Nhân vật này đi qua nhiều trường cảm xúc đan xen: yêu mãnh liệt trong vô vọng, khấp khởi hy vọng và tuyệt vọng. “Tôi tự cảm thấy phải làm tròn vai diễn này. Tôi đã nhập vai hết sức có thể, tạo ra những cảm xúc vô cùng mạnh mẽ sâu trong trái tim. Sự mất mát mà Naoko phải chịu đựng quá lớn như đã tràn sang cả cho tôi. Lần đầu tiên, tôi đã dành nhiều thời gian cho vai diễn cảm xúc này như thế”.

KIKO MIZUHARA - trong vai Midori: Sinh năm 1990 tại Texas, Hoa Kỳ, và lớn lên tại Kobe - Nhật Bản, Mizuhara gia nhập làng giải trí khi mới 13 tuổi làm người mẫu chụp hình cho tạp chí “Seventeen”. Từng nhận vương miện Miss Seventeen năm 2003 và xuất hiện thường xuyên trên sàn diễn thời trang Tokyo Girls Collection, thu hút hơn 30.000 người hâm mộ, nhưng vai diễn Midori trong phim Rừng Na Uy là vai diễn đầu tiên của cô. Sự lựa chọn Mizuhara cho vai diễn Midori sống động, cá tính, đạo diễn Trần Anh Hùng nhận xét: “Những gì mà mọi người cảm nhận khi gặp cô ấy là một cảm giác ấm áp tuyệt vời - đây là điểm quan trọng làm nên sức sống của nhân vật Midori. Chính vì thế tôi đã chọn cô ấy”.

16.3.11

"Tôi nói gì khi nói về chạy bộ" (Haruki Murakami)


Haruki Murakami

Haruki Murakami, một trong những nhà văn đương đại thành công nhất Nhật Bản và thế giới, tác giả của những tiểu thuyết thuộc top best-seller quốc tế, được độc giả Việt Nam yêu thích qua các tác phẩm đã xuất bản: Rừng Na Uy, Biên niên ký Chim vặn dây cót, Phía Nam biên giới phía Tây mặt trời, Kafka bên bờ biển, Người tình Sputnik, Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Ngầm

Các tác phẩm sẽ ra mắt trong thời gian tới của Haruki Murakami: Cuộc săn cừu hoang, 1Q84.

Tác phẩm Tôi nói gì khi nói về chạy bộ

“…tôi đã bắt đầu chạy… Ba mươi tuổi là tuổi tôi hồi đấy… Cái tuổi ấy có thể gọi là một kiểu giao lộ trong đời. Đó là cái tuổi tôi bắt đầu cuộc đời người chạy bộ của mình, và đó là điểm xuất phát muộn màng nhưng chân thực của tôi, làm tiểu thuyết gia…”. Điểm chung đầu tiên giữa chạy bộ và viết văn đã được Haruki Murakami diễn giải một cách chân thực, giản dị như thế qua tự truyện Tôi nói gì khi nói về chạy bộ.

Chạy bộ thì có gì hấp dẫn và thú vị? Nếu nó mông lung đến độ chính Murakami, người chạy bộ “chuyên nghiệp” cũng cảm thấy khó hình dung mình sẽ nói gì về nó trong một cuốn sách thì điều gì sẽ giữ độc giả ở lại đến tận trang cuối cùng? Để trả lời cho những câu hỏi ấy, Murakami đã kể chuyện mình và chạy bộ trên quan điểm: viết một cách trung thực những gì mình nghĩ và cảm nhận về chạy bộ và trung thành với phong cách riêng của mình và đó không nằm ngoài những “bí quyết” thành công của một tiểu thuyết gia lừng danh Nhật Bản và thế giới. Những bài học cá nhân tác giả học được qua việc cho cơ thể mình vận động có lẽ sẽ không vô ích với nhiều người, dù cho họ có phải là người viết văn hay không.

Cũng giống như bất kỳ môn thể thao nào khác, chạy bộ cũng đòi hỏi những nguyên tắc nhất định về khối lượng, cường độ chạy, chế độ ăn uống và sự duy trì đều đặn, bền bỉ cũng như đặt ra những đỉnh cao để “chinh phục”… Murakami, dưới góc độ một người chạy “trong suốt một phần tư thế kỷ” đã chia sẻ những chứng nghiệm chân thực dọc suốt hành trình tập luyện của mình: từ những buổi chạy thông thường theo chuẩn chạy nghiêm túc (ba mươi sáu dặm một tuần) cho đến những cuộc marathon không chính thức và chính thức ở Honolulu, Athens, New York, Boston, Hokkaido… Việc lựa chọn chạy bộ trong vô vàn môn thể thao khác cũng phần nào thể hiện tính cách của Murakami: thích được ở một mình và không hợp với việc đánh bại một ai đó. Điều tác giả quan tâm là có đạt được các mục tiêu đã tự đặt ra hay không và với người chạy bình thường, mục tiêu đó là mức thời gian muốn vượt qua.
“Dù không phá được kỷ lục thời gian mong muốn song miễn sao có được cái cảm giác mãn nguyện là đã làm hết sức mình-, và có lẽ, đã có một khám phá có ý nghĩa nào đó về bản thân trong quá trình ấy-thì tự điều ấy đã là một sự hoàn thành, một cảm xúc tích cực y có thể mang theo qua cuộc đua kế tiếp”.

Tinh thần ấy cũng được chuyển tải trong quan niệm về nghề viết tiểu thuyết của Murakami, ở đó ông cho rằng con số sách được bán ra, những giải thưởng hay lời ngợi khen từ phía các nhà phê bình… chỉ là những tiêu chuẩn bên ngoài đối với một thành tựu văn chương… Murakami chỉ ra “cố gắng tối đa trong những giới hạn cá nhân của mình: đó là bản chất của chạy bộ và là một ẩn dụ cho cuộc sống- cho tôi, và cho cả viết lách”. Mối liên hệ mật thiết giữa năng lực sáng tạo, năng lực ghi nhớ và diễn thuyết (những yếu tố hỗ trợ quan trọng đối với một tiểu thuyết gia) và năng lượng thể chất còn được Murakami khái quát, cụ thể hóa qua những dẫn chứng về cạn nguồn văn chương, về học thuộc diễn văn và cách thể hiện nó…

Nếu Somerset Maugham từng viết rằng trong mỗi lần cạo râu đều có một triết lý thì với Haruki Murakami, chạy bộ có nhiều hơn thế. Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với cuộc sống của nhà văn khi không chỉ giúp ông duy trì và hoàn thiện tình trạng thể chất để tiếp tục viết tiểu thuyết mà còn ông nhận ra “chuẩn mực cá nhân” của riêng mình. Ấp ủ ý tưởng từ những năm 1997, cuối cùng cuốn sách về chạy bộ được Haruki Murakami hoàn thành vào mùa thu năm 2006, đơn giản với mục đích “làm sáng tỏ kiểu đời sống […] đã trải qua, cả như một tiểu thuyết gia và một người bình thường, trong hơn hai mươi lăm năm qua”. Hơn thế, Tôi nói gì khi nói về chạy bộ còn làm sáng tỏ một thế giới nội tâm, có lẽ là lần đầu tiên được chia sẻ chân thực đến vậy, thế giới nội tâm của Haruki Murakami, nhà văn kiêm… người chạy bộ!.

Thông tin sách

- Tựa gốc: Hashiru Koto Ni Tsuite Kataru Toki Ni Boku No Kataru Koto
- Dịch giả: Thiên Nga
- NXB Hội Nhà văn & Nhã Nam, 2011
- Giá bìa: 45.000 đồng

Theo Thông cáo báo chí của Nhã Nam

21.10.09

Vòng xoáy chết


Phần tiếp theo của Ring, siêu phẩm đã đưa tên tuổi Suzuki Koji vượt ra khỏi ranh giới Nhật Bản để đứng vào hàng ngũ những nhà văn viết truyện kinh dị bậc thầy thế giới - lại một lần nữa khiến cho độc giả phải rùng mình trước những tình tiết gây bất ngờ khiếp đảm, đồng thời mang đến một nỗi ám ảnh dài lâu.

Nếu như ở Ring (được xuất bản tại Việt Nam năm 2007 với tựa Ring - vòng tròn ác nghiệt), người đọc bị hút theo một cuộc truy tìm hãi hùng và cuộc chạy đua căng thẳng với thời gian để nhằm cứu vớt sự sống của tay phóng viên Kazuyuki Asakawa cùng vợ và con gái anh ta sau khi cả ba xem phải cuốn băng ẩn chứa thông điệp chết người được tạo bằng ý chí siêu nhiên chứa đầy hận thù của cô gái Sadako Yamamura bị hãm hiếp và đẩy xuống một cái giếng hoang hơn hai mươi lăm năm trước; thì ở Vòng xoáy chết, câu chuyện lại tiếp diễn theo một lối kể chuyện dẫn dụ lạnh lùng, chậm rãi đi từ những tra vấn này đến những tra vấn khác cùng với các lời giải đáp kinh hoàng gây toát mồ hôi lạnh.

Có một sự tương đồng giữa hai phần của câu chuyện về virus Ring là nhân vật chính của chúng đều là những người chồng, người cha đang chìm trong nỗi lo lắng tột độ về gia đình mình và đồng hành trong cuộc khám phá kinh hãi với họ là những người bạn thân thiết. Asakawa của Ring đứng trước mối lo ngại về sự tuyệt vong của vợ con đã cùng người bạn thời trung học Ryuji Takayama dấn thân vào hành trình né tránh cái chết; còn bác sĩ giải phẫu Mitsuo Ando của Vòng xoáy chết thì đang chìm đắm trong nỗi đớn đau, tuyệt vọng vì cái chết của đứa con trai Takanori yêu quý và mong ước hàn gắn với vợ, bất ngờ nhận được tín hiệu lạ lùng từ Ryuji - người bạn thời đại học, người mà Ando phải mổ tử thi để rồi sau đó cùng với đồng nghiệp Miyashita dấn bước vào các cuộc giải mã khó ngờ để truy tìm sự thật.

Vòng xoáy chết, một lần nữa Suzuki Koji “chứng tỏ khả năng kỳ diệu trong việc biến cái bình thường trở nên đáng kinh sợ” (Rue Morgue). Đồng thời bằng những sự kết hợp mang đầy tính khoa học như về cấu trúc di truyền, về sự phối hợp giữa ADN người và virus bệnh đậu mùa để tạo nên virus gây chết người Ring, cũng như những am hiểu về bệnh lý học..., Koji đã làm cho câu chuyện kinh dị của ông trở nên cực kỳ thuyết phục và sống động. Đặt trong bối cảnh của cuộc sống hằng ngày, các nhân vật của Koji đều được miêu tả như là những con người rất đỗi gần gũi mà ta có thể đối diện ở ngay bên. Và chính từ đó, Vòng xoáy chết của Koji trở thành một câu chuyện gần với người đọc hơn bao giờ hết, để nỗi sợ hãi mà tác phẩm gây ra như là một sự trở lại của những ám ảnh sâu xa mang bản tính người.

Vòng xoáy chết của Suzuki Koji, Võ Hồng Long dịch, NXB Văn học và Nhã Nam đồng ấn hành.

Suzuki Koji sinh năm 1957 tại thành phố Hamamatsu, tỉnh Shizuoka (Nhật Bản). Ông tốt nghiệp trường Đại học Keio chuyên ngành Văn học Pháp. Suzuki Koji bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình với tiểu thuyết đầu tay Rakuen (Thiên đường) vào năm 1990 và giành giải thưởng Japan Fantasy Novel Award. Tiếp sau đó, bộ ba tác phẩm Ring (1991), Spiral (1996) và Loop (1998) đã đưa ông lên đến đỉnh cao của thể loại tiểu thuyết kinh dị Nhật Bản và khoa học giả tưởng. Ngoài ra ông còn có các tác phẩm kinh dị khác như Dark Water, BirthdayEdge City cùng một số tản văn, sách cho thiếu nhi...

Tại Việt Nam, ngoài hai cuốn Ring - vòng tròn ác nghiệt và cuốn Vòng xoáy chết (Spiral), còn có cuốn Vùng nước hắc ám (Dark Water) - tuyển tập truyện ngắn của ông ra mắt đầu năm 2009.

11.7.09

Sắp có cuốn "1Q84" của Murakami


Theo tin từ Nhã Nam thì cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nhật Bản Murakami Haruki là 1Q84 đã được công ty này mua bản quyền thành công. Cuốn sách sẽ được chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Nhật và dự định xuất bản trong năm 2010.

1Q84 đánh dấu sự trở lại của Murakami sau bảy năm tạm ngừng viết tiểu thuyết. Đó cũng là cuốn sách dày nhất trong số các tác phẩm đã được xuất bản của ông (NXB Shinchosha phải chia tác phẩm thành 2 tập, nhưng phát hành cùng lúc). Ra mắt tại Nhật Bản ngày 29.5 vừa qua, đến nay 1Q84 đã bán được hơn 1 triệu bản.

Nhiều nhà phê bình cho rằng tác phẩm này có thể xem như sự tích hợp tất cả những cuốn tiểu thuyết Murakami đã viết trước đây. Báo Japan Times khẳng định cuốn sách hoàn toàn xứng đáng với sự trông đợi của người đọc, bởi lẽ “cuốn tiểu thuyết hòa trộn trong bạo lực, đam mê và hài hước có thể coi như một tác phẩm bắt buộc phải đọc với những ai muốn thấu hiểu sâu sắc văn hóa Nhật Bản đương đại”.

Murakami, 60 tuổi, được coi là một trong những nhà văn đương đại xuất sắc nhất của Nhật Bản. Ông thực sự trở thành một thần tượng của giới trẻ Nhật Bản kể từ sau tiểu thuyết Rừng Na Uy. Thời gian qua, những tác phẩm lớn làm nên tên tuổi của nhà văn đều đã được Nhã Nam mua bản quyền và chuyển ngữ: Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển, Ngầm

7.7.09

"Kim Các Tự" của Yukio Mishima


Kim Các Tự (Kinkakuji) của nhà văn Nhật Bản Yukio Mishima (14.1.1925 - 25.11.1970) do Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh dịch, xuất bản bởi An Tiêm (Sài Gòn) năm 1970. Mua hôm qua với giá 65 nghìn. Ở nhà đã có cuốn này rồi nhưng mất bìa trong khi cuốn vừa mua còn khá nguyên vẹn tuy đã sút chỉ, phải mất thời gian ngồi may lại.

Trích giới thiệu sách: Kim Các Tự, xuất bản năm 1959 đến nay (thời điểm năm 1970) đã tái bản trên 10 lần có hàng triệu độc giả, đã tạo uy danh cho tác giả không những trong văn giới Nhật Bản mà còn cả Âu châu và Bắc Mỹ nữa.

Hiển nhiên, ở đây, Mishima đã dùng phân tâm học để xây dựng nhân vật dựa vào một thắng tích lịch sử để hình thành tác phẩm mà chủ đề cơ bản là sự say mê cái đẹp đến cuồng loạn chỉ muốn phá hủy, tiêu diệt, lấy xã hội Nhật Bản - tiêu biểu là thành phố Kyoto - hồi cuối đệ nhị thế chiến làm bối cảnh trong đó mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi khuôn mặt của dân tộc Phù Tang khi hùng hổ gây chiến cũng như lúc nhục nhã đầu hàng, một khuôn mặt tím bầm, tan nát vì chiến tranh xuất hiện lúc tỏ lúc mờ, khi ẩn khi hiện trong bầu không khí hiện thực pha mùi châm biếm.

Nhờ thế, Kim Các Tự vừa có giá trị cục bộ vừa có ý vị nhân bản đã thỏa mãn, lôi cuốn độc giả cả ở trong lẫn ngoài nước.

Dù khó tính, thiên vị hoặc có thành kiến, độc giả cũng như phê bình gia Âu Á, Đông Tây rồi ra cũng phải thừa nhận tiểu thuyết này là một đại danh tác có cả chiều sâu lẫn chiều rộng, nhờ biết kết hợp phân tâm học với Thiền lý mà chỉ một ngòi bút, một tâm hồn từng được nuôi dưỡng lâu đời trong nguồn tư tưởng Phật giáo, dù là "Phật giáo của giới Tân Tăng Nhật Bản", mới có thể thực hiện nổi.

>> Yukio Mishima trên Wikipedia

28.6.09

"Ngầm" của Haruki Murakami


Hôm nay (29.6), cuốn Ngầm của Haruki Murakami đã chính thức được phát hành. NXB Văn hóa Sài Gòn và Nhã Nam liên kết xuất bản. Chắc tại Sài Gòn chưa có sách, phải mấy ngày sau khi phát hành tại Hà Nội thì sách mới được đưa vào trong Nam. Cuốn Ngầm này do dịch giả Trần Đĩnh chuyển ngữ.

Ngày 20.3.1995, các tuyến xe điện ngầm quan trọng ở Tokyo đồng loạt bị giáo phái Aum rải hơi độc sarin - 12 người chết, hơn 5.000 người phải chịu các di chứng về thể chất và tinh thần, toàn nước Nhật bàng hoàng chấn động.

Murakami Haruki, nhà văn đương đại xuất sắc của thế hệ trưởng thành sau Thế chiến II, đã rời nước Mỹ trở về quê hương, ghi chép lại thảm họa trong nỗi đau máu thịt sống động của từng nhân chứng. Không né tránh bất cứ câu hỏi nào về quyền lực và số phận dân tộc, Murakami muốn truy tìm căn nguyên thảm họa chính trong lòng nước Nhật, chứ không quy kết hời hợt về phía “kẻ thủ ác”.

Cuốn ký sự - phỏng vấn có tên Ngầm của Murakami được mô tả là một tác phẩm báo chí đẫm chất văn chương, khẳng định tài năng của ông - vốn gần như không cần tranh cãi trong lĩnh vực tiểu thuyết - ở thể loại phi hư cấu.

Loạt phỏng vấn với 60 nạn nhân và tám thành viên giáo phái Aum, không chỉ đem lại cái nhìn khách quan và khá toàn diện về vụ tấn công mà còn phản tỉnh về một nước Nhật “ngủ yên” trong vật chất và mê mụ, không còn khả năng phản xạ tức thì trước cơn nguy biến; nỗi cô độc, trạng thái kiệt lực trong một xã hội duy lý đã đẩy những người bình thường thành đồng lõa với “kẻ thủ ác”... Tuy nhiên, tinh thần hy sinh cao quý của mỗi công dân bình thường, như người gác đường ray, đêm nào đi làm cũng dặn vợ “có thể đêm nay anh không về”, lại khiến chúng ta cảm động vô cùng về chính nước Nhật đó.

25.6.09

Thêm một tác phẩm của Ryu Murakami


Ryu Murakami tiếp tục có mặt tại Việt Nam với cuốn Thử vai, nếu không lầm thì đây là cuốn thứ tư của ông được dịch sang tiếng Việt, sau các cuốn Màu xanh trong suốt, Xuyên thấu69.

Cuốn Thử vai (NXB Hội nhà văn) vừa ra mắt cũng là cuốn đầu tiên do Nhã Nam làm về tác gia đương đại nổi tiếng bậc nhất Nhật Bản này. Các cuốn trước đều của Bách Việt do NXB Văn học ấn hành.

Cuốn Thử vai do Trần Thanh Bình dịch, Xuyên thấu do Lê Thị Hồng Nhung dịch, Màu xanh trong suốt do Trần Phương Thúy dịch (hai cuốn này ra vào cuối năm 2008), cuốn 69 do Hoàng Long dịch (ra vào đầu năm 2009).

Đôi nét về Ryu Murakami: Tên đầy đủ là Ryunosuke Murakami, sinh năm 1952 ở Sasebo, Nagasaki. Không chỉ biết đến với tư cách nhà văn, ông cũng là nhà làm phim danh tiếng . Ở Nhật Bản, các tác phẩm của Ryu Murakami có tầm ảnh hưởng lớn đến mức năm 1997, tạp chí Times nhận định rằng ông là: "Một trong 11 người sẽ cách mạng hóa Nhật Bản".

Tác phẩm đầu tay "KagirinakuTomei Ni Chikai Buru" xuất bản lần đầu tiên năm 1976 đoạt ngay giải Gunzo dành cho tác giả mới xuất sắc, và một năm sau đó là giải văn học cao quý Akutagawa. Ngòi bút đầy tỉnh táo của Ryu Murakami xoáy vào những mặt gai góc của xã hội Nhật Bản, từ lối sống buông thả, trụy lạc của giới trẻ đến những ám ảnh khủng khiếp do trống rỗng, thiếu niềm tin vào cuộc sống... Tuy đó là những cảnh tỉnh gây sốc nặng nề nhưng cũng là liều thuốc cần thiết cho xã hội Nhật Bản nói riêng và xã hội hiện đại nói chung. Các tác phẩm về sau của ông liên tục được dư luận chú ý, được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau.




21.6.09

Murakami chuẩn bị "trở lại"

Bìa 2 cuốn sách của Murakami (bản tiếng Anh) chuẩn bị ra mắt

Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam vừa cho biết đơn vị này vừa mua bản quyền hai tác phẩm của nhà văn Nhật Bản nổi tiếng thế giới Haruki Murakami là UndergroundWhat I Talk About When I Talk About Running. Hiện hai cuốn sách này đang trong quá trình dịch thuật và sẽ sớm ra mắt trong năm nay.

Như vậy, sau Người tình Sputnik - tác phẩm đầu tiên của ông đề cập đến vấn đề đồng tính nữ xuất bản hồi đầu tháng 7 năm ngoái, tác giả của Rừng Na Uy Murakami đang chuẩn bị "trở lại" với độc giả Việt Nam. Tuy nhiên, nếu những cuốn sách được dịch trước đây của Murakami thuộc về thể loại truyện ngắn hay tiểu thuyết như Sau cơn động đất, Đom đóm, Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển... thì ở hai tác phẩm mới này, độc giả Việt Nam sẽ được thấy tài năng văn chương của ông qua các thể loại báo chí, tự truyện...

Ngoài những trang viết tạo nên tên tuổi của một nhà văn đương đại hàng đầu Nhật Bản, Murakami còn có một niềm say mê khác là chạy marathon. What I Talk About When I Talk About Running (tạm dịch Tôi nói gì khi tôi bàn về việc chạy bộ) được Murakami viết vào khoảng năm 2005 - 2006, xuất bản tại Nhật Bản vào năm 2007 với tít phụ "Một hồi ký" là một cuộc khám phá những mối kết nối giữa chạy và viết. Ông cho biết: "Không chỉ chuyện chạy, cuốn sách cũng là về một cách sống. Nó không phải là sách hướng dẫn. Cách tôi chạy là cách tôi xưa nay vẫn sống, nên cuốn sách là về những mối kết nối giữa sống, chạy và viết. Thái độ sống của tôi...".

Trong khi đó, cuốn Underground (tạm dịch Ngầm, xuất bản tại Nhật năm 1997 - 1998) được mô tả là một tác phẩm báo chí đẫm chất văn chương, khẳng định cho tài năng của Murakami - vốn hầu như không cần tranh cãi trong lĩnh vực tiểu thuyết - ở thể loại phi hư cấu (non-fiction). Underground viết về thủ đô Tokyo của Nhật Bản tháng 3.1995 bị chấn động bởi một cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học nhằm vào thường dân - các hành khách của hệ thống tàu điện ngầm Tokyo của một tổ chức tự xưng là giáo phái Aum. Vụ đầu độc này đã làm 12 người chết, hàng ngàn người bị thương...

Trong loạt phỏng vấn với 60 nạn nhân và 8 thành viên của giáo phái Aum, Murakami đã đem lại cái nhìn khách quan và khá toàn diện về vụ tấn công, đồng thời cắt nghĩa sự kiện kinh hoàng đó bằng cách nhìn sâu hơn vào những bất ổn của hệ thống xã hội đang được duy trì trong thời hiện đại, bất ổn đằng sau bề ngoài bình lặng của mỗi cá nhân, và con đường dẫn đến tội ác...

Đánh giá về tác phẩm này, The Independent viết: “Xuất sắc. Tác phẩm của Murakami chủ yếu được cấu thành từ lời kể của các nạn nhân. Trong khi nhắc lại cái ngày định mệnh ấy, họ đã đưa nguời đọc đến một góc lạ thường trong cuộc sống của những người dân Tokyo. Kết quả tổng hợp không chỉ là một tác phẩm ấn tượng của nền văn học nhân chứng, mà còn là dư âm độc đáo của những tâm hồn Nhật Bản bình thường”.