Showing posts with label Sách lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Sách lịch sử. Show all posts

12.5.12

Hai cuốn của Đỗ Quang Chính


- Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Nxb Tôn giáo, 2008
- Tản mạn lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2008

31.5.11

Hai cuốn sách về Trung Quốc




Giấc mơ Trung Quốc - Tư duy nước lớn và định vị chiến lược trong thời đại hậu Mỹ

Thế kỷ XXI là thế kỷ chứng kiến cuộc đua tranh quyết liệt giữa hai siêu cường Mỹ – Trung Quốc để giành vị trí số Một thế giới. Giấc mơ Trung Quốc là cuốn sách đầu tiên công khai tuyên bố mục tiêu thay Mỹ lãnh đạo thế giới, trở thành đất nước lãnh tụ, quốc gia giàu mạnh nhất trên trái đất của Trung Quốc.

Khám phá Giấc mơ Trung Quốc, bạn đọc sẽ tìm thấy đầy đủ những luận điểm chứng minh truyền thống “nhất thế giới” của Trung Quốc; điều kiện, lí do để Trung Quốc đảm nhiệm vai trò quốc gia lãnh tụ; bản chất của ngôi vị quán quân thế giới; mô hình cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc; chiến lược của Trung Quốc để giành vị trí siêu cường số Một;… Giấc mơ Trung Quốc cũng chỉ ra thuyết “Trung Quốc sụp đổ”, vạch rõ những mặt tiêu cực “nhất thế giới” của Trung Quốc, cảnh báo dân tộc đã tới lúc nguy hiểm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi và trỗi dậy.

Giấc mơ Trung Quốc là cuốn sách cho thấy cái nhìn toàn diện về khát vọng và quyết tâm biến giấc mơ thành hiện thực của người dân nước này. Đồng thời, đây cũng được coi là cuốn sách gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh giới lãnh đạo Trung Quốc cần phải cứng rắn hơn với Mỹ.

20.5.11

Tài liệu tham khảo lịch sử Cách mạng cận đại Việt Nam









Bộ Tài liệu tham khảo lịch sử Cách mạng cận đại Việt Nam gồm 12 cuốn, hiện có 7 cuốn (thiếu các cuốn 1, 8, 9, 11, 12). Ngoài ra còn có thêm một cuốn Việt Nam vong quốc sử - Phan Bội Châu (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958)

Tập 2: Khởi nghĩa Yên Thế, khởi nghĩa của các dân tộc miền núi (in lần thứ hai có bổ sung, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958)

Tập 3: Những phong trào đấu tranh cách mạng từ đầu thế kỷ XX đến hết Đại chiến thứ nhất (in lần thứ hai có bổ sung, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958)

Tập 4: Phong trào đấu tranh đòi tự do dân chủ và các chính đảng thành lập sau Đại chiến lần thứ nhất (in lần thứ hai có bổ sung, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958)

Tập 5: Tân Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng (in lần thứ hai có bổ sung, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1958)

Tập 6: Thời kỳ từ 1930 - 1935 (Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản, 1956)

Tập 7: Thời kỳ Mặt trận bình dân (Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản, 1956)

Tập 10: Phong trào chống Phát xít, chống chiến tranh và các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957)

20.4.11

Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa - Yoshiharu Tsuboi


YOSHIHARU TSUBOÏ sinh năm 1948, nguyên là giảng viên Luật khoa tại Đại học Tokyo. Ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam từ năm 1973, cuốn Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa được trích từ luận án tiến sĩ đệ tam cấp bảo vệ năm 1982 tại Đại học Paris. Hiện ông là Giáo sư Lịch sử chính trị và xã hội Đông Nam Á, Đại học Waseda, Tokyo.

18.4.11

Người "lội bộ" suốt 5 thế kỷ

Bên cạnh công việc làm báo, nhà văn Hồ Trung Tú còn say sưa các đề tài về văn hóa, lịch sử. Tìm hiểu những bản sắc văn hóa Quảng Nam qua góc nhìn “phân kỳ lịch sử” là đề tài đã thu hút trí lực của anh trong nhiều năm.

Cuốn sách Có 500 năm như thế dày 260 trang của Hồ Trung Tú do NXB Thời Đại và Công ty Phương Nam ấn hành. Bằng cái nhìn "phân kỳ lịch sử", tác giả đã phân tích bản sắc văn hóa của vùng đất Quảng Nam (và Đàng Trong) theo cách rất riêng. Nhiều đồng nghiệp của anh như Tạ Duy Anh và Inrasara đã nhận xét đây là một công trình "điều tra đầy mạo hiểm" hoặc "vừa dũng cảm vừa khoa học"... để lý giải lịch sử với một tình yêu lớn lao của tác giả cùng di sản dân tộc...

Bìa sách là họa phẩm Một nhóm người xứ Đàng Trong năm 1792-1793 khá đặc sắc của học giả người Anh John Barrow. Đây là một dẫn chứng quý giá về sự chung đụng của người Đại Việt và Chămpa kéo dài trong nhiều thế kỷ qua nhưng ít có những nghiên cứu thấu đáo. Chừng đó cũng đủ thấy ý đồ của tác giả muốn minh chứng rằng trong gốc gác, giọng nói, các di sản văn hóa và tính cách của người Quảng, người Đàng Trong có một phần của người Chămpa mà nhiều năm qua anh đã cố công tìm hiểu qua nhiều tài liệu nghiên cứu, nhiều gia phả và các điền dã.

Tại sao nhiều gia phả tộc họ được ghi tiền hiền của họ vào Nam theo chân cuộc Nam tiến của Lê Thánh Tông, mà con cháu đến nay chỉ mới 17-18 đời? Mất đi cả vài trăm năm nếu tính từ năm 1471! Đặt ra câu hỏi đó sau những cuộc điền dã và đối chiếu sử liệu, Hồ Trung Tú đã tìm được câu trả lời: Tiền hiền các tộc họ đó vào sớm hơn nhưng đã lưu lại ở đâu đó, có thể là những vùng đất đai không màu mỡ, giao thông khó khăn vì những nơi trù phú vẫn còn các làng người Chăm đang sinh sống. Sau đó một thời gian dài, các tộc họ trên mới dần đến định cư ở làng Chăm, lấy vợ Chăm cho đến ngày nay. Đây là một vấn đề khá độc đáo trong lịch sử mà tác giả đã mạnh dạn nêu ra với nhiều chứng lý, kể cả tư liệu của chính tộc họ mình...

Các hình ảnh như ông Ba Bị, cái quần "trật bù lương", chiếc khăn quấn đầu của những nông dân nghèo ở Quảng Nam nay không còn nữa, nhiều làn điệu dân ca hay cách phát âm riêng biệt của những vùng đất, cách tính các đời, thế hệ của mỗi tộc họ người Việt, lý do vì sao nhiều người mẹ ở lớp tiền hiền, hậu hiền không thấy có tên trong nhiều gia phả, sự hình thành giọng nói của từng vùng... đã được tác giả nghiên cứu, ghi nhận, đối chiếu và soi rọi qua lăng kính riêng để chứng minh cho luận điểm của mình. Bàng bạc trong nhiều chương sách, ta lại thấy Hồ Trung Tú nêu ra những câu, những cụm từ đại loại như: Phải chăng?; Chưa có bằng chứng khảo cổ; Khó mà có thể khẳng định được điều gì; Cũng là nghi án của lịch sử; Giả định rằng; Suy ra... với một thái độ khá thận trọng trước những tồn nghi chưa có giải đáp trước đó. Có thể nhiều bạn đọc sẽ cho rằng tác giả chủ quan trước những vấn đề lịch sử, khoa học. Nhưng theo tôi, đó cũng là một đức tính cần thiết của một người nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội, nhân văn ở xứ ta, bởi lẽ cứ liệu, các điều tra cơ bản trong những lĩnh vực này thường rất hiếm vì nhiều nguyên nhân. Hồ Trung Tú cũng thừa nhận khó khăn này ngay trong lời mở đầu cuốn sách và mong rằng sự mạnh dạn của anh sẽ "đẩy cuộc nghiên cứu sau này thoát khỏi cuộc xuất phát...".

Có cảm giác rằng cuốn sách sẽ đón nhận nhiều ý kiến tranh biện thú vị. Nhưng nếu không có sự "mạo hiểm" và "dũng cảm", liệu có được sự tiến bộ? Hỏi cũng đồng thời đã trả lời. Và Hồ Trung Tú đã làm được việc có ý nghĩa, như người một mình tự “lội bộ” trong chiều dài suốt 500 năm lịch sử để tìm giải đáp cho những vấn đề mà lâu nay anh đăm đắm trong lòng.

Trương Điện Thắng (Báo Thanh Niên, 17.4.2011)

15.4.11

Ra mắt bộ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến

Sau gần 10 năm nghiên cứu, biên soạn và biên tập, bộ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến - do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng làm chủ biên - đã chính thức được xuất bản.

Sáng 31-3-2011, hội đồng chỉ đạo biên soạn, ban biên soạn và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật đã tổ chức lễ tổng kết và công bố bộ sách tại Hội trường Thống Nhất TP.HCM. Bộ sách gồm bốn cuốn, trong đó có hai tập chính sử: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (1945-1954) và Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (1954-1975); một tập Biên niên sự kiện lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1945-1975 và một tập Những vấn đề chính yếu trong lịch sử Nam Bộ kháng chiến. (Ảnh: cpv.org.vn)

12.3.11

Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc lập


Đang đọc cuốn Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc lập (Nguyễn Tiến Hưng - Jerrold L. Schecter, Nxb Trẻ, 1990), thích đoạn này:

"Đêm đêm người ta có thể nghe từ các phòng trà giọng hát ai oán của Khánh Ly, một ca sĩ "ballad" được yêu thích của Saigon.

Tôi có người yêu chết tận Ashau
Nằm chết cong queo, chết vội vàng, chết không manh áo
Trên gương mặt vẫn đầy ước mơ


Và cách đó không xa tại khu Chợ Cũ nghèo nàn hơn, sự chán nản của người dân lúc bấy giờ đã bộc lộ rõ qua giọng ca của Duy Khánh:

Hôm nay tôi sẽ gác tại tiền đồn BenHet
Ngày mai tôi sẽ băng qua các rừng Lào
Súng trên vai, mũ trên đầu
Tôi không bao giờ dám bảo em đợi
Tương lai ư? Tôi chẳng có gì cho ước mơ của em!
" (trang 58)

Đoạn nói về thất bại của chiến dịch Lam Sơn của quân đội Nam Việt Nam đầu năm 1971 (hay chiến dịch đường 9 - Nam Lào, theo cách gọi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) khi tấn công vào căn cứ tiếp tế Bắc Việt và các đồn trú quân phục vụ cho đường mòn Hồ Chí Minh đóng tại tỉnh Tchepone, miền Đông Lào. Chiến dịch thảm bại sau 44 ngày khiến Việt Nam Cộng hòa bị tổn thất nặng nề và tinh thần quân đội của Tổng thống Thiệu xuống tới mức thấp nhất sau lần đầu tiên tự thực hiện một chiến dịch quy mô với sự yểm trợ của Mỹ.

8.3.11

Vua Minh Mạng và vùng đất Nam Bộ

Cuốn sách Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng (Southern Vietnam under the reign of Minh Mang) vừa ra mắt độc giả Việt Nam. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn PGS-TS Choi Byung Wook, tác giả của công trình này.

Triều Minh Mạng (1820-1841) và vùng đất Nam Bộ có sức hút đặc biệt như thế nào với ông?

PGS-TS Choi Byung Wook: Tôi quan tâm tới những vấn đề gốc rễ dẫn đến chiến tranh vào đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi vào những năm 1833-1835 tại Sài Gòn, tôi tiếp tục hướng nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ những năm đầu thế kỷ 19, về Tổng trấn Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng. Lý do tôi tập trung vào vùng đất Nam Bộ trong khoảng thời gian trị vì của vua Minh Mạng là bởi khi đọc cuốn Đại Nam thực lục (bộ biên niên sử của triều đình nhà Nguyễn), tôi nhận thấy những người thống trị quan tâm sâu sắc đến việc kiểm soát Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ 19. Dưới triều vua Minh Mạng, những công việc của chính quyền T.Ư ở Nam Bộ tăng lên thường xuyên hơn, cũng đúng vào khoảng thời gian đó, mối quan hệ căng thẳng giữa triều đình Huế và Nam Bộ lên đến đỉnh điểm. Tôi băn khoăn, liệu những hành động của vua Minh Mạng có gây ra những biến động chính trị sau đó ở Nam Bộ hay không.

Nghiên cứu của tôi trước hết đề cập tới giai đoạn hình thành vùng đất Gia Định, sự xung đột giữa triều đình T.Ư với hệ thống cai trị địa phương, cũng như với người dân phương Nam. Tiếp đó, là ba chính sách quan trọng của vua Minh Mạng thực hiện sau khi xóa bỏ chính quyền địa phương Gia Định: giáo hóa người phương Nam, “Việt hóa” các nhóm tộc người (bao gồm cả người Hoa) và chính sách đạc điền mới dẫn đến sự thừa nhận chính thức các chủ đất tư nhân và sự tích tụ đất đai ở Nam Bộ.

Với những nghiên cứu đã thực hiện, ông đánh giá thế nào về những chính sách của vua Minh Mạng tại Nam Bộ?

Mặc dù vua Minh Mạng lấy hình mẫu là vua Lê Thánh Tông nhưng hai thời đại lại hoàn toàn khác biệt. Vua Minh Mạng là người đã mang đến những chính sách thay đổi sâu sắc trên cả ba bình diện văn hóa, đối ngoại, kinh tế cho vùng đất Nam Bộ dưới triều đại hợp nhất cả ba miền Bắc, Trung, Nam như hiện nay. Tôi đặc biệt đánh giá cao ông khi đã làm được nhiệm vụ quan trọng là tạo dựng và duy trì một Việt Nam thống nhất. Chúng ta có thể hình dung ra những khó khăn mà một vị vua gặp phải trong việc xây dựng đất nước khi mà đất nước đó vừa trải qua 200 năm nội chiến và người dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau.

Hơn 20 năm nghiên cứu về nam bộ

PGS-TS Choi Byung Wook (hiện đang làm việc tại khoa Lịch sử, ĐH Inha - Hàn Quốc) tới Việt Nam nghiên cứu lịch sử từ những năm 1990 với sự giúp đỡ ban đầu của GS Phan Huy Lê. Năm 1992, tại ĐH Hàn Quốc, ông thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài nghiên cứu Gia Định thành Tổng trấn, mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt. Luận văn tiến sĩ Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng do ông thực hiện tại ĐH Quốc gia Úc trong những năm 1994 -1999, được chương trình Đông Nam Á của ĐH Cornell (Mỹ) xuất bản thành sách vào năm 2004. Bảy năm sau, với sự giúp đỡ của khoa Lịch sử - trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), cuốn sách với bản dịch tiếng Việt (Từ Văn Books và Nhà xuất bản Thế giới phát hành) đã đến với độc giả.



Minh Ngọc
(Báo Thanh Niên, 9.3.2011)

4.3.11

Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng


Lời giới thiệu

Chúng ta đang có trên tay bản dịch tiếng Việt của cuốn sách “Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng (1820 - 1841)” (Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng)” của PGS.TS. Choi Byung Wook, Đại học Inha (Hàn Quốc), chuyên gia Việt Nam học. Công trình dựa trên bản Luận án Tiến sỹ và đề tài nghiên cứu khoa học cùng tên của tác giả ở Đại học Quốc gia Australia, được chương trình Đông Nam Á của Đại học Cornell, New York xuất bản năm 2004.

Trong lịch sử, những đóng góp về nghiên cứu chuyên sâu Việt Nam của các học giả nước ngoài hầu như đã tập trung vào 3 nước lần lượt là Trung Hoa, Pháp và Mỹ - các quốc gia có nhiều mối duyên nợ lịch sử, tích cực lẫn đau buồn với Việt Nam. Trong số đó, những công trình khoa học đề cập đến lịch sử - văn hóa Việt Nam trung cận đại của các học giả Pháp có phần vượt trội hơn cả. Từ mấy thập kỷ nay, các chuyên gia Việt Nam học người nước ngoài đã mở rộng hơn tới một số nước khác, trong đó có Hàn Quốc. Một cuốn sách được nhiều người trong giới nghiên cứu Việt Nam biết đến là tác phẩm “Law and Society in 17th and 18th Century Vietnam” (Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18) (Korea University 1990) của Giáo sư Insun Yu đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản năm 2002.

Đi sâu vào nghiên cứu Việt Nam thời các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, chúng ta thấy có một cuốn sách được nhiều người biết đến, là cuốn “Vietnam and the Chinese Model” (Việt Nam và mô hình Trung Hoa) của tác giả Alexander B. Woodside (Harvard University Press, 1971). Sau đó là những cuốn “L’empire vietnamien face à la France et à la Chine, 1847-1885” (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa) của Yoshiharu Tsuboi (Paris, 1987) và cuốn “Nguyen Cochinchina Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries” (Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII) của Li Tana (Cornell University, 1998). Hai cuốn kể sau đều đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam. Cũng có thể kể thêm các chuyên luận "The Mekong Delta: Ecology, Economy and Revolution" (Đồng bằng sông Cửu Long: Sinh thái, kinh tế và cách mạng) của Pierre Brocheux (1995), “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region” (Xu hướng phát triển vùng miền ở Việt Nam qua lịch sử quốc gia và vùng) của Keith Taylor (1998), “Southern Regionalism and the Composition of the Nguyen Ruling Elite” (Chủ nghĩa địa phương miền Nam và sự hợp thành giai tầng thượng lưu thống trị của nhà Nguyễn) của Nola Cook (1999).

Công trình của Choi Byung Wook có một khung không gian - thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp và cụ thể hơn nữa: vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng và vấn đề cũng được giới hạn: các chính sách của triều đình trung ương và phản ứng của địa phương, qua quá trình chuyển biến về chính trị - hành chính và những nét đặc thù về lịch sử, văn hóa, kinh tế, cư dân của vùng đất này. Chính phạm vi hạn hẹp đã được đền bù lại thích đáng bằng sự phong phú và chuyên sâu của tác phẩm, những sự kiện ở mức chi tiết và những lập luận khá vững chắc. Tác giả thừa hưởng và tận dụng khá triệt để kho tư liệu phong phú của những người đi trước bằng nhiều nguồn ngôn ngữ - văn tự: Hán Nôm, Việt, Pháp, Anh, Nhpật… Đặc biệt, nét nổi trội và có phần ưu thế so với một số tác giả khác là phần nghiên cứu điền dã và khảo sát thực địa, với một lao động khoa học nghiêm túc và tốn nhiều công sức. Tác giả đã thực hiện những cuộc tiếp xúc, phỏng vấn để kiếm tìm những thông tin hồi cố qua những câu chuyện kể, trao đổi với các nhà nghiên cứu, sưu tầm những bản gia phả, văn tự, hồi ký. Tác giả cũng tận dụng phương pháp phân tích định lượng qua những con số thống kê, bảng biểu so sánh. Dưới chiếc kính lúp phóng to của nhà nghiên cứu, nhiều chi tiết nhỏ đã được hiện lên rõ nét và nói lên ý nghĩa, được sử dụng làm dữ kiện chứng minh cho những luận cứ được định hướng của tác giả, mà trong một số trường hợp cũng có thể cần nên thảo luận.

Nhìn một cách tổng quát, cuốn chuyên khảo của tác giả Choi Byung Wook là một công trình nghiên cứu bổ ích, có giá trị. Nó cung cấp cho chúng ta những tư liệu mới, một số lập luận kiến giải mới, một phương pháp tiếp cận khoa học và đưa ra những gợi ý mới, những vấn đề mới có thể trao đổi trong những cuộc thảo luận rộng mở sau này.

Cuốn sách được thiết kế với hai phần chính có liên quan với nhau: quá trình vận hành và đặc điểm cấu trúc của vùng đất Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XIX.

Mở đầu phần I: “Chính quyền địa phương và sự tiêu vong của nó”, tác giả phác họa sự hình thành vùng đất Gia Định đã dựa trên di sản và những điều kiện nào, từ giai đoạn trước vương triều Nguyễn (1788 - 1802) như một căn cứ địa về quân sự, chính trị và kinh tế của Nguyễn Ánh trong công cuộc chống Tây Sơn. Nguyễn Ánh xuất xứ là một di duệ của các vị chúa xứ Đàng Trong có đô thành là Phú Xuân ở miền Trung nhưng thực chất và chủ yếu là một con người của vùng đất Gia Định Nam Bộ, nơi ông trưởng thành và được tôi luyện thành một thủ lĩnh, quy tụ và cố kết các bạn chiến đấu, quân sĩ và thần dân của mình thành một lực lượng, nhóm quyền lực Gia Định. Tác giả cũng phân tích thái độ rộng lượng, bao dung và thuyết phục của nhân vật lịch sử này đối với các thành phần, tầng lớp xã hội khác nhau, các sắc tộc và những người tình nguyện ngoại quốc (Xiêm, Hoa, Pháp), tạo nên một lợi thế và là một nhân tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của Nguyễn Ánh.

Gia Long là một vị hoàng đế lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam trị vì và cai quản một đất nước thống nhất có diện tích lớn nhất từ trước đến nay. Trong điều kiện đó, nhà vua có sáng kiến tích cực là thực hiện một kiểu chế độ phân quyền có điều kiện: trực trị miền Trung, gián trị miền Bắc và miền Nam qua việc lập ra Bắc thành Tổng trấn và Gia Định thành Tổng trấn. Tuy nhiên, tác dụng tích cực lúc ban đầu đã sớm bộc lộ điểm yếu và trở thành một trở lực, tạo nên một xu thế và những ý đồ mang tính chất ly tâm, cát cứ, muốn thoát khỏi dần sự kiểm soát của triều đình trung ương, thể hiện phần nào qua động thái của Nguyễn Văn Thành ở miền Bắc và đặc biệt là Lê Văn Duyệt ở miền Nam. Tác giả đã tạo dựng hình ảnh cận cảnh của vị Tả quân, Tổng trấn Gia Định thành này qua công việc gây dựng cơ đồ của ông, dựa chủ yếu vào những con người bản địa của vùng đất Nam Bộ, trong đó có 3 thành phần đáng lưu ý là các tù phạm, Hoa kiều và giáo dân đạo Thiên chúa, với những biện pháp vừa kiên quyết cứng rắn, vừa thuyết phục mềm dẻo, giống như tính cách con người Ông. Và phải nói là Lê Văn Duyệt đã thành công, chí ít là cho đến khi ông ta qua đời. Chính thể Gia Định đã tồn tại vững chắc, bất chấp sự không hài lòng dẫn đến thái độ phê phán và hành động can thiệp của vua Minh Mạng. Tuy nhiên vào lúc này, trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa trung ương và địa phương phản ánh thực chất thế đối trọng giữa nhà vua và một số quyền thần có thế lực lớn, phía nhà vua đã thắng. Gia Long và Minh Mạng là những vị hoàng đế mạnh, đã trấn áp được các đại thần muốn vượt quyền như Nguyễn Văn Thành, Lê Chất, Lê Văn Duyệt. Điều này khác với triều Tự Đức sau này, khi cuộc tranh chấp vẫn tiếp tục nhưng cán cân lực lượng đảo ngược lại, các vị quyền thần sẽ o bế và áp chế được nhà vua.

Cuối cùng thì Minh Mạng đã thành công trong việc giải thể Gia Định thành Tổng trấn trong cuộc cải cách hành chính năm 1831 - 1832, nắm lại quyền kiểm soát và cai trị trực tiếp vùng đất Gia Định, lúc này trở thành 6 tỉnh Nam Kỳ, đồng thời cho thi hành những chính sách mới theo quan điểm và ý kiến riêng của nhà vua.

Tác giả Choi dành cả phần II của cuốn sách để trình bày quá trình thực hiện và phân tích những tác động hệ quả của những chính sách mới đó trên cả 3 bình diện: văn hóa, đối ngoại và kinh tế, bao trùm lên là việc xây dựng những thiết chế hành chính mới. Ngay từ thời Lê Văn Duyệt, đặc biệt là sau khi trấn áp được cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi, nhà vua đã đưa vào vùng đất Nam Bộ và cài cắm ở đó những “người của mình” - tầng lớp quan văn được tuyển lựa qua khoa cử, chủ yếu có quê gốc ở miền Trung và miền Bắc để thực hiện những đường lối chính sách mới, trung thành với quan điểm của nhà vua và triều đình trung ương, kiểm soát những ảnh hưởng còn lại của phái ly tâm Gia Định và xóa bỏ mọi uy tín của vị Tả quân trong dân chúng.

Choi Byung Wook đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu những nền tảng địa - xã hội, địa - văn hóa của xứ Nam Bộ với tư cách một vùng lãnh thổ tương đối mới, đất đai phong phú, thiên nhiên hào phóng và ưu đãi, văn minh sông rạch và miệt vườn nổi trội để từ đó rút ra những nét đặc thù của con người Nam Bộ có phần khác biệt với cư dân các miền Trung và Bắc. Theo ông, người Nam Bộ ưa tự do thoải mái, thờ ơ với con đường sĩ hoạn, học hành để làm quan (mà tác giả gọi là tính lười nhác) nhưng lại chăm chú siêng năng vào các hoạt động kinh tế làm ăn buôn bán, nếp sống hồn nhiên thô mộc. Do vậy, để đưa miền đất này hòa nhập chung với toàn quốc và gò ép vào khuôn phép Nho giáo mà Minh Mạng là một tín đồ nhiệt thành, nhà vua đã cho thi hành nhiều biện pháp giáo hóa về văn hóa tư tưởng như lập nhiều trường học, mở khoa thi, ban bố các huấn điều chuẩn mực đề cao đạo đức luân lý Khổng giáo… nhằm cải hóa người dân Nam Bộ. Kết quả là tâm thức của con người vùng đất này có phần nào chuyển biến, một tầng lớp nho sĩ chính thống ở Nam Bộ được hình thành.

Trong chương tiếp theo, tác giả Choi muốn đưa ra một cách tiếp cận mới về chính sách đối với các sắc tộc thiểu số và sự mở rộng lãnh thổ vương quốc của Minh Mạng sang Chân Lạp, lúc này được gọi là Trấn Tây thành, gắn liền với việc chuyển đổi quốc hiệu từ “Việt Nam” thời Gia Long sang “Đại Nam” thời Minh Mạng. Tác giả muốn gọi đó là một quá trình đồng hóa, áp dụng chung cho cả đường lối chính sách của nhà nước phong kiến cũng như những quan hệ tiếp xúc giao lưu trong sự chung sống giữa các cộng đồng người Việt, người Khmer, người Hoa cùng những tộc người thiểu số. Theo tác giả, hậu quả của quá trình đồng hóa đó đã phải trả giá khá đắt, đó là những mâu thuẫn, xung đột dân tộc và sắc tộc bùng nổ thành nhiều cuộc bạo loạn xảy ra dưới thời Minh Mạng.

Sự thực, đây là một vấn đề tế nhị. Lịch sử vốn là một sự đan quyện phức tạp, hòa trộn hai dòng chảy: lịch sử của các nhà cầm quyền, những chính sách của nhà nước và hệ quả của nó, cùng với một lịch sử khác của quần chúng nhân dân trong thực tiễn nhiều mặt của đời sống. Hai dòng lịch sử đó, tuy có tác động ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nên đánh đồng làm một.

Một thực tế lịch sử nữa là trong quá trình chung sống giữa các cộng đồng dân cư, dân tộc và sắc tộc ở vùng đất Nam Bộ thời kỳ này, nét chủ đạo chính là một sự dung hợp, tiếp biến đa chiều, tích hợp hơn là một sự đồng hóa áp đặt về dân cư, văn hóa để tạo thành một thực thể không gian xã hội mới. Họ cùng gánh chịu chung sự áp chế của một chính quyền nhà nước chuyên chế, dẫn đến những hành động phản kháng, bạo động. Coi nhẹ yếu tố chung đó có thể là chưa khách quan và không công bằng.

Chương cuối của cuốn sách dành cho sự phân tích những đặc trưng và các quan điểm, chính sách kinh tế của nhà nước thời Minh Mạng đối với vùng đất Nam Bộ qua công cuộc đạc điền, đặc biệt là về các mặt phương thức chiếm hữu, canh tác và quyền sở hữu ruộng đất. Tác giả Choi phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội của vùng đất Nam Bộ đã tạo cơ sở cho sự phát triển của chế độ tư hữu lớn và giai cấp đại địa chủ ở phần lãnh thổ này, đặc biệt là các hoạt động khai hoang ở một vùng đồng bằng phì nhiêu dễ canh tác. Tác giả cho rằng tính dễ di chuyển của người nông dân Nam Bộ - thực chất là biểu hiện của hiện tượng nông dân lưu tán - đã dẫn đến nạn ẩn lậu ruộng đất và tạo điều kiện cho sự tích tụ ruộng đất. Tác giả cũng đã có lý khi phân tích về sự nghịch lý biện chứng giữa hai xu hướng đối lập: bảo hộ ruộng đất công và ủng hộ ruộng tư trong phép đạc điền của Minh Mạng, cũng như quan điểm thực dụng kinh tế của nhà vua này. Ông chấp nhận nhượng bộ một thực tế là phần ruộng công đã bị thu hẹp ngay cả khi đã điều chỉnh và mặc dù nó là biểu tượng của quyền lực nhà nước tập quyền. Ông coi trọng việc đạt tới mục đích chủ yếu là gia tăng nền sản xuất nông nghiệp quốc dân và nguồn lợi thu thuế của nhà nước, khi để cho giai cấp địa chủ và chế độ tư hữu lớn về ruộng đất phát triển.

Toát lên trong toàn bộ cuốn sách, ngoài nhân vật Tổng trấn Lê Văn Duyệt, Choi Byung Wook đã tập trung phân tích cá tính và vai trò của vua Minh Mạng, một nhân vật lịch sử lớn đầy mâu thuẫn. Trong khi thừa nhận tầm vóc lớn lao cũng như tính cách quyết đoán mạnh mẽ đến mức chuyên chế của nhà vua, tác giả phản bác những đánh giá có phần đơn giản hóa về tính bảo thủ cực đoan của nhà vua và cho rằng Minh Mạng là con người thông minh, sắc sảo, quan tâm nghiên cứu đến những cái mới, những hiện tượng canh tân trong các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, nghiêm túc xem xét những ý kiến về cải cách của các triều thần. Tuy nhiên, thực tế là vị hoàng đế đầy năng động này - như một phiên bản thu nhỏ và không được hoàn cảnh ủng hộ của mẫu thần tượng của ông là vua Lê Thánh Tông - vẫn chỉ tung hoành trong một vòng kim cô chật hẹp và xơ cứng, đó là chế độ phong kiến nhà nước quan liêu trong giai đoạn hậu mô hình. Nhà nước đó lại dựa trên một bệ đỡ tinh thần là hệ tư tưởng Nho giáo chính thống, đến lúc đó đã mắc lỗi hệ thống với nhiều khuyết tật. Nó bị dồn ép vào thế biệt lập trong một toàn cảnh thế giới và khu vực đầy biến động, trước những sóng gió của những ý đồ và động thái can thiệp của các cường quốc thực dân phương Tây. Minh Mạng nghiên cứu và tìm hiểu kỹ thuật tiên tiến của châu Âu là để phục vụ cho một chiến lược phòng thủ chống lại, chứ không phải là một chọn lựa và chấp nhận một đường lối mới, với những cách nhìn và giải pháp mới. Đó chính là một bi kịch lịch sử, mà hệ quả tai hại đã bộc lộ rõ rệt trong những thập kỷ tiếp sau: một di sản yếu hèn của quốc gia và sự thất bại dẫn đến mất nước dưới thời vua Tự Đức.

Cảm nhận bao trùm của người đọc cuốn sách của Choi Byung Wook là bằng một phương pháp nghiên cứu thực chứng và phân tích định lượng khá hiện đại, tác giả đã phục dựng cho chúng ta một toàn cảnh vùng đất Nam Bộ dưới thời Minh Mạng, một mảnh đất đầy tiềm năng, xung lực nhưng cũng hàm chứa nhiều mâu thuẫn nội tại. Tác giả đã có ý tô đậm hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa triều đình trung ương và thực thể di sản truyền thống địa phương và mâu thuẫn giữa các cộng đồng cư dân, trong đó có mâu thuẫn dân tộc và sắc tộc. Người đọc dễ dàng thấy một sự quan sát sắc sảo ở luận cứ thứ nhất, đồng thời còn băn khoăn về sự toàn diện và tính thuyết phục của luận cứ thứ hai. Có thể ở đây lý luận về một “chủ nghĩa địa phương - vùng” trong nghiên cứu là một lợi thế tích cực nhưng nó sẽ trở thành một điểm yếu nếu chúng ta quá tin cậy khi sử dụng, nhất là trong điều kiện những dữ liệu còn ở mức khiêm tốn. Điều đó cũng có thể áp dụng cho phương pháp phân tích định lượng. Lịch sử vốn là một ma trận phức hợp luôn luôn biến động ẩn hiện, với vô vàn những tham số. Mà sự tiếp cận, nắm bắt và hiểu hết được bản chất những sự kiện, thông tin xác thực của chúng ta thì chỉ hạn hẹp. Vậy mọi sự quy nạp, khẳng định và kết luận phải chăng nên để ngỏ và mềm dẻo? Tuy nhiên, đặt ra được câu hỏi, đã là tìm được một nửa câu trả lời.

Cuốn sách được chọn dịch sang bản tiếng Việt do một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ, nhiều tiềm năng và đầy nhiệt tình, trách nhiệm thực hiện. Công việc đọc lại và hiệu đính cũng được tiến hành nghiêm túc, trên cơ sở cố gắng tôn trọng tinh thần và cách diễn đạt ngôn ngữ của nguyên bản. Tuy nhiên, chúng tôi ý thức rằng sẽ còn những hạt sạn trong khâu biên dịch, rất mong muốn được độc giả phát hiện và nhặt ra để có thể hoàn thiện trong lần tái bản. Mặt khác, chúng tôi cũng chờ đón những nhận xét cùng những ý kiến phản biện tranh luận đối với những thông tin và luận cứ của tác giả nguyên bản, với hy vọng có thể làm sáng tỏ hơn một số vấn đề trên hướng đi tiếp cận tới sự thực lịch sử, là điều mà mọi chúng ta mong muốn.
Hà Nội, ngày đầu năm Tân Mão 2011

PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ
Đại học Quốc gia Hà Nội
---

Trong năm 2011, Từ Văn Books sẽ lần lượt xuất bản các cuốn trong bộ sách Việt Nam trong quá khứ: Tư liệu nước ngoài. Đây là chương trình hợp tác liên kết xuất bản giữa NXB Thế giới, Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và công ty sách Từ Văn. Cuốn sách Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng của tác giả Choi Byung Wook, sách dày 336 trang, giá 70.000đ sẽ là cuốn sách đầu tiên được giới thiệu trong năm nay.

>> Việt Nam trong quá khứ: Tư liệu nước ngoài

11.2.11

Sách học lịch sử



Thêm hai cuốn tra cứu sơ khởi cho việc học sử Việt

9.2.11

Thế thứ các triều vua Việt Nam - Nguyễn Khắc Thuần


Một cuốn tra cứu sơ khởi cho việc học sử Việt thật bổ ích, tiện lợi.

Lời nói đầu:

Năm Nhâm Thân, niên hiệu Thiệu Long thứ 15 (1272), quan giữ chức Quốc sử viện giám tu, tước Nhân Uyên Hầu là bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322), đã hoàn tất bộ chính sử đầu tiên của nước nhà là Đại Việt sử kí gồm tất cả 30 quyển. Sách dâng lên, vua Trần Thánh Tông (1258-1278) xuống chiếu đặc biệt khen ngơi. Đại Việt sử kí nay đã thất truyền, nhưng ở thời Lê Sơ, sách vẫn còn và được Ngô Sĩ Liên cùng các sử gia xuất chúng đương thời đánh giá rất cao. Bởi được sự trân trọng và đánh giá cao như vậy, Đại Việt sử kí đã hóa thân, trở thành một bộ phận của Đại Việt sử kí toàn thư.

3.12.10

Tủ sách Đường mòn lịch sử



Tủ sách này của Nxb Tri Thức cùng Viện Viễn Đông bác cổ, Hội Khoa học lịch sử VN, Viện Khoa học xã hội VN thực hiện, đã ra được hai cuốn:

1. Đường tới Bờ Rạ, Andrew Hardy, 2008, 122 trang
2. Chuyện Thăng Long - Hà Nội qua một đường phố, Đặng Phong, 192 trang

28.11.10

Quan hệ Việt - Trung trong Minh thực lục và Thanh thực lục


Hai bộ sử biên niên lớn nhất trong các loại sử thư Trung Hoa lần đầu được dịch, chú giải toàn bộ những điều mục liên quan đến lịch sử Việt Nam và cuộc chiến chống quân Thanh. Nguồn sử liệu này dẫu phong phú song cần được tiếp cận cẩn trọng vì có không ít chỗ sai lạc.

Minh Thực Lục: quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ XIV-XVII

Tham khảo tư liệu từ Minh thực lục vào việc biên soạn hoặc nghiên cứu sử Việt Nam sớm nhất là vào khoảng năm 1950, qua công trình An Nam sử nghiên cứu của học giả Nhật Bản Yamamoto Tatsuro với hình thức sao y nguyên bản. Đến những năm 1955-1956, học giả Đào Duy Anh bắt đầu tham khảo An Nam sử nghiên cứu I để bổ sung cho quyển Lịch sử Việt Nam (1955), tư liệu Minh thực lục đã giúp tác giả bổ sung nhiều sự kiện, tình tiết và số liệu quan trọng thời thuộc Minh và kháng chiến chống quân Minh.

Trước đây trong một số chuyên đề về lịch sử cuộc kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn, một số ít tư liệu Minh thực lục đã được khai thác, những dữ liệu về quân số, nhân vật tham chiến, tình tiết về nội tình quân Minh đã làm sinh động hơn việc phục dựng các chiến trường cách nay gần 600 năm. Tuy nhiên khi tham khảo trực tiếp tất cả văn bản liên quan cuộc chiến chống quân Minh, nhiều chi tiết khá đắt giá khác hẳn đã được khai thác.

Thí dụ trong văn bản ngày 26-12 năm Tuyên Đức thứ nhất [23-1-1427], một sắc lệnh của hoàng đế Tuyên Đức điều động quân lực cả hai kinh Nam, Bắc, các đô ty của 13 hành tỉnh toàn quốc, cả Trung đô Lưu thủ ty [Lâm Hào, An Huy] vốn là đội quân bảo vệ lăng... cả thảy gom được 7 vạn giao cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Số phận của đạo quân này chúng ta đều đã biết, nhưng đằng sau thông tin của văn bản ấy và một vài văn bản liên quan đã bộc lộ sự mòn mỏi sức dân, sự kiệt quệ kinh tế và cũng là niềm hi vọng cuối cùng của Minh triều nhằm duy trì sự đô hộ An Nam.

Bắt đầu từ học giả Đào Duy Anh khoảng năm 1956 đến năm 2007 trong Lịch sử Việt Nam III, lượng tư liệu có quan hệ đến sử Việt trong Minh thực lục ước chừng chỉ mới sử dụng gần phân nửa. Bởi đây là những văn bản được dịch thẳng từ sử liệu đời Minh nên độc giả cần lưu ý nội dung mà nó mang tải là nhãn quan của sử gia đời Minh nhìn vào sự kiện, nhìn vào một thuộc quốc lân cận, những ngôn từ khiếm nhã được sử dụng không chỉ riêng khi viết về An Nam, mà đối với Miến Điện, Nhật Bản, Thái Lan, Chiêm Thành... cũng đều chung một cách thức giọng điệu ấy.

Đối chiếu Minh thực lục: quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ XIV-XVII với Đại Việt sử ký toàn thư ta thấy có nhiều nội dung sự kiện cùng được hai sách ghi chép, tuy nhiên các tình tiết có nhiều dị biệt, có rất nhiều sự kiện Minh thực lục chép rộng hơn Toàn thư và đây là điểm có thể lợi dụng để bổ sung cho thông sử.

Chẳng hạn về giai đoạn nhà Hồ, những văn bản liên quan sắc tộc Thái ở vùng tây bắc Đại Việt nơi giáp giới đất Miến Điện, Lão Qua, nhân vật thời hậu Trần, các thủ lĩnh địa phương khởi nghĩa trước Lê Lợi và nhiều nhân vật, sự kiện không thấy chép trong Toàn thư mặt khác cũng giúp độc giả chuyên sâu có cái nhìn từ nhiều phía đối với sự kiện.

Thanh thực lục: Quan hệ Thanh - Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX”

Đối với việc nghiên cứu chuyên sâu về đề tài chiến tranh Thanh - Tây Sơn trong thời Càn Long, hoặc sự bang giao giữa Thanh và Nguyễn Tây Sơn - Nguyễn Gia Long trong thời Gia Khánh thì sưu tập này cung cấp nhiều sử liệu quan trọng. Độc giả cũng có thể bắt gặp một chân dung Càn Long được biểu hiện qua những lời sắc, dụ và phê duyệt, những tình tiết được ghi chép tỉ mẩn về sự chỉ đạo từ xa của vị hoàng đế này đến mặt trận đôi khi lẫn lộn giữa vai trò một hoàng đế với một tướng lĩnh...

Thanh thực lục là nguồn sử liệu phong phú và gần như liên tục trong quan hệ bang giao Đại Thanh - Đại Nam, đặc biệt là đối với Cao Tông thực lục, các chi tiết về những sự kiện quan hệ trong [trước và sau] cuộc chiến 1789 tuy phong phú nhưng những điều sai lạc cũng chiếm phần đáng kể. Những nghiên cứu về văn bản của các học giả Nhật Bản cho thấy Thanh thực lục có nhiều bộ được sửa đổi nhiều lần, vài nơi còn biểu lộ sự mâu thuẫn.

Thực lục triều Càn Long cũng không ngoài các vấn đề đã nêu, lịch sử về cuộc xâm lược của nhà Thanh và thắng lợi của vua Quang Trung qua Cao Tông thực lục sẽ có thêm nhiều tư liệu cụ thể, nhiều chi tiết phía sau chiến trường. Tuy nhiên người đọc sử và nhà làm sử hẳn sẽ tiếp nhận chúng một cách chọn lọc để có thể đưa ra những phân tích, nhận định khách quan.

Hai tập sử liệu này được ghi chép bởi các sử quan dưới chế độ quân chủ Trung Hoa, có những lúc nhằm vào những triều vua được thời đắc chí bậc nhất trong lịch sử cai trị, như Chu Nguyên Chương nhà Minh và Hoằng Lịch (Càn Long) nhà Thanh, vai trò của thiên tử và vị thế của vương triều được khuếch đại quá mức cũng là điều bình thường. Nhu cầu sử liệu trong nghiên cứu thường không giới hạn, hai công trình này dừng ở mục tiêu sưu tập có hệ thống các sự kiện trong một giai đoạn lịch sử.

Việc chọn lựa, phân tích để sử dụng chúng vào các vấn đề có lợi cho lịch sử nước nhà, cho mục tiêu phát triển học thuật thuộc về công việc sắp tới của số đông các nhà nghiên cứu và quý độc giả quan tâm.

---

Minh thực lục được giới sử học Trung Quốc hiện đại định tính là “biên niên thể sử liệu trường biên” (sử biên niên liên tục của triều đại), tập hợp sử liệu từ một nguồn, được biên soạn trong suốt 13 triều vua nhà Minh, từ Thái Tổ đến Hy Tông, tổng cộng 3.053 quyển.

Thanh thực lục (còn có tên Đại Thanh lịch triều thực lục) chép việc 11 đời vua từ Thái Tổ nhà Thanh Nỗ Nhĩ Cáp Xích [niên hiệu Thiên Mệnh] đến vua Đức Tông Tải Điềm [niên hiệu Quang Tự], riêng triều Thái Tổ có thêm Mãn Châu thực lục, phụ thêm Tuyên thống chính kỷ, tổng cộng có 13 bộ, 4.433 quyển.

Minh thực lục: quan hệ Trung Quốc - Việt Nam thế kỷ XIV-XVII (3 tập) là bản dịch tập hợp hầu hết các sử liệu Minh thực lục liên quan trực tiếp và gián tiếp đến lịch sử Việt Nam.

Thanh thực lục: quan hệ Thanh - Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX (1 tập) là bản dịch từ một sưu tập sử liệu được trích lục từ một nguồn Thanh thực lục, gồm hầu hết những ghi chép liên quan lịch sử quan hệ Trung Hoa - Việt Nam trong khoảng 15 năm (1788-1803). Cả bốn cuốn đều do Hồ Bạch Thảo, một nhà nghiên cứu gốc Việt dịch và chú giải, nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân hiệu đính.
Phạm Hoàng Quân
(Theo Tuổi trẻ chủ nhật)

12.8.09

Chúng tôi ăn rừng



- Cuốn bút ký Chúng tôi ăn rừng của Georges Condominas, NXB Thế Giới, quý IV.2008.

- Cuốn "Chúng tôi ăn rừng..." Georges Condominas ở Việt Nam, NXB Thế Giới, quý IV.2007. Cuốn này được xuất bản nhân trưng bày "Chúng tôi ăn rừng..." Georges Condominas ở Sar Luk từ ngày 11.12.2007 đến 16.3.2008 tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Người Mnông Gar, cũng như phần lớn những người miền núi Tiền - Đông Dương, "ăn rừng", theo cách nói của họ, nghĩa là họ canh tác bằng cách đốt rẫy. Georges Condominas đã đến với dân làng Sar Luk ở Tây Nguyên chia sẻ cuộc sống cùng họ trong suốt một năm tương đương ứng với một chu kỳ nông nghiệp trọn vẹn và đã mô tả lại trải nghiệm đó của ông trong cuốn sách này. Từ cuộc hiến tế trâu trong đám tang của Taang-Jieng-Còng, đám cưới của Jaang, vụ tự tử của anh chàng Tieng đẹp trai, đến Lễ Đất lớn, ta cùng sống với ông cho đến khi kết thúc năm Đá-Thần Gôo...

Khi cuốn sách này ra đời, nhà dân tộc học nổi tiếng Claude-Lévi Strauss đã nồng nhiệt chào mừng: "Chúng tôi ăn rừng đã đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó và hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay".

Đặc biệt, ngoài tác phẩm bút ký hấp dẫn này, những tư liệu của tác giả trong thời gian sống ở làng Sar Luk gồm sổ ghi chép, ký họa, từ vựng, ảnh chụp và hơn 500 hiện vật về sinh hoạt thường ngày của đồng bào Mnông Gar đã được lưu giữ ở Bảo tàng Quai Branly (Paris). Cuối năm 2007, những tư liệu quý giá đó đã quay trở lại Việt Nam trong cuộc trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học (Hà Nội), để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem và thôi thúc nhiều người tìm đọc lại tác phẩm nổi tiếng Chúng tôi ăn rừng. Sách đã được dịch ra tiếng Việt, Ý, Nga, Đức, Anh, Nhật, Hung và tái bản nhiều lần tiếng Pháp.

Georges Condominas sinh năm 1921 tại Hải Phòng, tiến sĩ văn học và khoa học nhân văn. Giám đốc Trung tâm tư liệu và nghiên cứu Đông Nam Á và khu vực Nam Đảo, Chủ tịch Ban Nhân học, Dân tộc học, Tiền sử học của Ủy ban quốc gia nghiên cứu khoa học - Phó Chủ tịch của Liên hiệp quốc tế các khoa học Nhân học và dân tộc học. Giáo sư thỉnh giảng tại một số trường ĐH ở Mỹ, Úc, Nhật Bản...

Đề tài nghiên cứu chính: dân tộc học và từ vựng học những nhóm Nam Á thuộc Tây Đông Dương, đặc biệt người Mnông Gar ở Trung Bộ, Xã hội học về tôn giáo dân gian Lào, Dân tộc học về Madagascar. Tác phẩm: Chúng tôi ăn rừng Đá - Thần Gôo (1957); Fokon'olona và những tập thể nông thôn ở Imerina (1960); Cái lạ là cái hàng ngày (1965); Không gian xã hội (1980); Đạo Phật ở làng (1998)...

26.7.09

Bộ sách Sông Kiên

Hitler - ảnh chụp năm 1938 của LIFE

1. Hitler - Tội phạm chiến tranh
2. Cuộc săn tìm vũ khí bí mật của Hitler
3. Cuộc truy nã tên đồ tể Do Thái Adoflf Eichmann
4. Bộ mặt thật nhà độc tài Phát xít Mussolini
5. Những trận đánh lịch sử của Hitler
6. Hitler và trận đánh Normandie
7. Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái
8. 10 ngày cuối cùng của Hitlet
9. Hitler - Cuộc mưu sát các lãnh tụ đồng minh
10. Máu đẫm bức tường Bá Linh

---

11. Hồi ký của người nữ binh Do Thái
12. Hitler và những sứ mạng bí mật của Skorzeny
13. Hitler - Người phát động thế chiến thứ hai
14. Hitler và các danh tướng Đức quốc xã
15. Hồi ký của Hitler
16. Hitler và trại tận diệt phụ nữ và trẻ con Do Thái
17. Hitler đền tội (Vụ án quốc tế Nuremberg)
18. Hitler và các vũ khí bí mật
19. Hitler và tên ác quỷ SS Himmler
20. Cuộc mưu sát Hitler
21. Hitler trả thù (Cuộc thảm sát làng Lidice)
22. Hitler - Tổng tư lệnh tối cao
23. Hitler trước Hitler
...

Những tựa trên đây có thể có một số là trùng nhau...

25.7.09

Việt Nam trong quá khứ: Tư liệu nước ngoài



Bộ sách do NXB Thế giới thực hiện gồm 9 cuốn. Hiện không biết đã ra được mấy cuốn rồi. Đáng tiếc những cuốn không có lại rất hay.

Những cuốn đã có:

1. Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở viễn Đông - G.Coedès
2. Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài - Jean Baptiste Tavernier (có hai cuốn năm 2005 và 2007)
3. Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 - William Dampier (có hai cuốn năm 2006 và 2007)
4. Những người châu Âu ở nước An Nam - Charles B.Maybon
5. Chân Lạp phong thổ ký - Chu Đạt Quan
6. Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792 - 1793) - J.Barrow

Thiếu:

7. Sự phát triển của chính quyền Lê ở Việt Nam thế kỷ XV - John Kremers Whitmore
8. Vương quốc Chiêm Thành - G.Maspéro
9. Nước Phù Nam - Paul Pelliot

14.7.09

Sử liệu Phù Nam


Sử liệu Phù Nam của Lê Hương, xuất bản năm 1974 bởi nhà Nguyên Nhiều. Theo lời nói đầu thì tác giả Lê Hương biên soạn tập sử liệu này, cố nhiên không phải là một quyển sử, với mục đích ước mong chứng minh sự hiện diện riêng biệt của Phù Nam, một cường quốc xuất hiện trong lịch sử Đông Nam Á giống như La Mã trong lịch sử Âu Châu.

Ngoài cuốn này, Lê Hương còn có: Quả đấm thôi sơn (1952), Tự học chữ Miên (1963), Truyện cổ quốc tế (1969), Người Việt gốc Miên (1969), Truyện vui quốc tế (1969), Truyện cổ Cao Miên I và II (1969), Angkor (Đế Thiên Đế Thích) (1970), Truyện tích Việt Nam (1970), Chợ trời biên giới (1970), Sử Cao Miên (1970), Truyện cổ Ấn Độ (1971), Truyện thỏ khắp thế giới (1971), Việt Kiều ở Cao Miên (1971), Người hùng (1973), Chân Lạp phong thổ ký...