10.3.11

Biếm họa Việt Nam


“Nói đến biếm họa là nói đến “chông gai và…hoa hồng”, nghề của những anh hề dũng cảm dám đương đầu với sự ngu dốt nói chung”. Với cách nhìn nhận như thế, Lý Trực Dũng đã bỏ mặc công việc chính của mình là kiến trúc sư và xây dựng để “lao vào cuộc khảo ngược gian nan về chân dung những con người và tác phẩm đã tạo nên nền biếm họa Việt Nam” và kết quả là sự ra đời của cuốn Biếm họa Việt Nam - bức tranh khái quát và sinh động về “Làng Cười Việt Nam” trong suốt gần 90 năm qua.

Không sắp xếp theo bố cục của một công trình nghiên cứu với những đề mục, tiểu mục, Lý Trực Dũng mở từng trang lịch sử biếm họa Việt Nam theo những nhân vật cụ thể, bắt đầu từ người đầu tiên vẽ tranh biếm họa ở Việt Nam đến những nhân vật “đình đám” nhất trong làng biếm họa, danh nổi như cồn, vượt ra ngoài cả phạm vi Việt Nam… Nếu người đọc chờ đợi ở đây một văn phong cầu kỳ, trau chuốt của người nghệ sĩ quen cầm cọ hơn là bút viết thì hẳn sẽ thất vọng, bởi Biếm họa Việt Nam đậm chất trào lộng, dí dỏm, hóm hỉnh một cách giản dị và chân thật. Dưới góc nhìn của một họa sĩ, một người làm nghề đã “múa cọ” trên nhiều trang báo nổi tiếng, đã tiếp xúc với những người góp phần tạo nên “Làng Cười Việt Nam”, đã thẩm định và đánh giá rất nhiều tác phẩm trong các cuộc thi biếm họa quy mô toàn quốc, Lý Trực Dũng biết cách tiếp cận và “vẽ” lại chân dung những nhân vật theo cách riêng của mình. Đó là những đại diện cho lớp họa sĩ tài năng thế hệ trước như Nguyễn Gia Trí “bậc thầy biếm họa”, Tô Ngọc Vân - người góp phần quan trọng trong lịch sử phát triển biếm họa Việt Nam những năm 30 thế kỷ trước, Phan Kích với những bức biếm họa mang nhãn quan chính trị sâu sắc, Mai Văn Hiến “họa sĩ biếm chiến khu”, Nguyễn Bích, tác giả lớn của biếm họa thời chống Pháp….; gần đây hơn là họa sĩ nổi tiếng mà người ta biết đến bút danh nhiều hơn tên thật như họa sĩ Chóe, họa sĩ Ớt, họa sĩ Nhím..., bên cạnh đó là những gương mặt “tuổi trẻ tài cao” ghi dấu ấn đặc biệt trong làng biếm họa Việt Nam hiện đại, đặc biệt là chân dung biếm như họa sĩ Còm.Khoái, LEO, LAP…

Nhẩn nha kể chuyện bằng những câu chữ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu thông tin, nối kết hài hòa với nhiều giai thoại, sự kiện, Lý Trực Dũng không có tham vọng lớn xây dựng nên một khảo cứu quy mô và tầm vóc về biếm họa Việt Nam mà đơn thuần mong muốn nó sẽ là “một ‘nhát cuốc động thổ’ cho một tập hợp nghiên cứu hoàn chỉnh và tiệm cận hơn về Lịch sử Nghệ thuật Biếm họa Việt Nam trong tương lai”. Gọi ông là “gã nông phu trên cánh đồng cười” (cách gọi của họa sĩ Nguyễn Quân) hẳn đúng, không chỉ bởi sự gắn bó bền bỉ suốt hơn ba thập niên với biếm họa mà còn bởi với tập sách Biếm họa Việt Nam, ông đã cần mẫn gom nhặt trải nghiệm của bản thân và những am hiểu quý báu về biếm họa, “đứa con dĩnh ngộ của báo chí” trên hành trình “hoằng dương” nghệ thuật và lịch sử biếm họa Việt Nam với công chúng.

Họa sĩ Lý Trực Dũng

Sinh năm 1946, kiến trúc sư-họa sĩ Lý Trực Dũng đã có hơn ba mươi năm gắn bó với biếm họa. Tranh ông không những được đăng trên hầu hết các báo lớn ở Việt Nam và trên một số báo, tạp chí có tiếng ở Đức mà còn giành được nhiều giải thưởng uy tín trong và ngoài nước như Giải Biếm họa International Biennal of Humor Cuba 1983, Giải Biếm họa International Cartoonfestival Knook Heist Bỉ 1984, Giải Hội họa Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1990...

Ngoài vẽ tranh biếm họa, ông còn tích cực tham gia nhiều hoạt động liên quan đến lĩnh vực này như viết tiểu luận, thuyết trình, sưu tầm và giới thiệu sách biếm họa quốc tế. Ông là người đầu tiên nghiên cứu lịch sử biếm họa Việt Nam qua việc giới thiệu các chân dung biếm họa tiêu biểu. Lý Trực Dũng còn là chủ tịch Hội đồng giám khảo giải Biếm họa Báo chí Việt Nam - Cúp Rồng tre, giải biếm họa uy tín ông là người cùng báo Thể thao & Văn hóa khởi xướng từ năm 2008… Nói về ông, họa sĩ-nhà nghiên cứu Nguyễn Quân khẳng định: “Trong cái ‘tam tiếu đình’ của làng cười đương đại, sau Chóe (1943-2003), Lý Trực Dũng là người thứ hai.”

Thông cáo báo chí của Nhã Nam

Dòng chảy tranh biếm họa

Những bức tranh biếm họa đầu tiên của họa sĩ Việt Nam xuất hiện từ những năm 1920-1930. Trong suốt gần 90 năm, nhiều thế hệ họa sĩ biếm đã để lại dấu ấn, tạo nên dòng chảy không ngừng cho thể loại tranh này.

Tranh đả kích do Nguyễn Ái Quốc vẽ, đăng báo Le Paria (tháng 8.1922)
Không nhiều người biết rằng, người Việt Nam đầu tiên có tranh biếm họa đăng trên báo là Nguyễn Ái Quốc. Bức tranh được đăng trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) tại Pháp vào năm 1922. Từ khi ra đời, tranh biếm họa Việt Nam đã gắn liền với báo chí mặc dù xuất hiện muộn hơn. Trong những năm 30 của thế kỷ trước, ngay khi xuất hiện trên tuần báo Phong Hóa của nhóm Tự lực Văn đoàn, các bức biếm họa với hai nhân vật Lý Toét - Xã Xệ đã gây xôn xao trong dư luận. Thể loại tranh mới mẻ đã tạo nên cú “sốc” mạnh mẽ, không dễ được đa số người dân lúc bấy giờ chấp nhận ngay. Dần dần, người ta hiểu được ý nghĩa thâm thúy, tính đả kích, chế giễu mạnh mẽ quan lại phong kiến thối nát, chống lại chế độ thực dân cai trị. Tiếp đó, người ta lại bất ngờ trước nhân vật biếm họa Bang Bạnh của Tô Tử (Tô Ngọc Vân) thể hiện tư tưởng chống đối chế độ đương thời trong tuần báo của nhóm Tự lực Văn đoàn.

Nếu như trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới, biếm họa Việt Nam là tiếng nói chống lại kẻ thù, thì đến bây giờ, là tiếng nói chống tiêu cực cho xã hội. Hàng loạt tên tuổi các họa sĩ ở các thời kỳ khác nhau đã ghi dấu ấn với dòng tranh biếm họa. Các họa sĩ biếm thuộc thế hệ trước năm 30 thế kỷ trước có bậc thầy biếm họa Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân… Vào những năm kháng chiến có Phan Kích (Phan Kế An) với nhãn quan chính trị sâu sắc, Mai Văn Hiến “họa sĩ chiến khu”, Nguyễn Bích... Thế hệ thời đổi mới có họa sĩ Chóe, Ớt, Nhím, Nhốp... Gần đây là những họa sĩ trẻ đầy sung lực như DAD, Còm, Khoái, LEO, LAP... Nhiều họa sĩ biếm Việt Nam được thế giới biết đến. Một trong những người được thế giới công nhận là nghệ sĩ hàng đầu trong tranh biếm họa là họa sĩ Chóe.

Tác phẩm của họa sĩ Lý Trực Dũng

Họa sĩ Lý Trực Dũng sinh năm 1946, đã có hơn 30 năm gắn bó với dòng tranh biếm họa. Tranh biếm họa của ông không chỉ xuất hiện trên báo chí của Việt Nam mà còn trên nhiều nhật báo, tạp chí nổi tiếng của Đức và nhiều nước trên thế giới. Ông vừa cho ra mắt cuốn sách đầu tiên về lịch sử biếm họa Việt Nam. Lý Trực Dũng phác họa chân dung thế hệ các họa sĩ biếm cùng các tác phẩm của họ từ thời kỳ đầu tiên biếm họa xuất hiện cho tới thời điểm hiện tại. Không có tham vọng tạo nên cuộc khảo cứu quy mô và tầm vóc về biếm họa Việt Nam, Lý Trực Dũng cho biết ông mong muốn cuốn sách sẽ là “nhát cuốc động thổ cho những nghiên cứu hoàn chỉnh và tiệm cận hơn về lịch sử nghệ thuật biếm họa Việt Nam trong tương lai”.

Minh Ngọc
(Báo Thanh Niên, 10.3.2011)

Xuất bản bộ sách về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Nhân kỷ niệm 10 năm mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (2001 - 2011), Nhà xuất bản Trẻ vừa thông báo sẽ phát hành bộ sách 3 cuốn sách về Trịnh Công Sơn.

Cuốn thứ nhất: Trịnh Công Sơn - Tôi là ai? Là ai..., nhiều tác giả, dày 500 trang, tập hợp các bài viết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, trong đó có bài chưa công bố và bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước, với tranh ảnh, tư liệu mới về Trịnh Công Sơn. Sách do nhà thơ Nguyễn Duy và nhà báo Nguyễn Trọng Chức cùng gia đình cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tổ chức sưu tầm và hoàn thành bản thảo.

Chân dung nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
tranh của Quang Thám

Cuốn thứ hai: Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ và ám ảnh nghệ thuật của Bùi Vĩnh Phúc, 250 trang, tập trung nghiên cứu về ca từ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn. Đây là chuyên luận cho thấy Trịnh Công Sơn không những là một nhạc sĩ, mà còn là nhà sáng tạo ngôn ngữ và là “một thi sĩ qua những ca từ ông đã cất giấu, hé lộ, bật mở, nâng đỡ những hình ảnh ông đã nhìn thấy và làm cho chúng cất cánh bay lên”.

Cuốn thứ ba chắc chắn sẽ là cuốn sách gây chú ý nhiều nhất: Thư tình gửi một người, 250 trang, theo NXB Trẻ sách gồm “hàng trăm bức thư tình của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gửi một người, được người đó lưu giữ cẩn thận trong nhiều chục năm qua và mới đây đã dành tặng lại cho gia đình nhạc sĩ để công bố rộng rãi. Thông qua những lá thư, người đọc sẽ hiểu được những lo âu, dằn vặt triền miên về kiếp người, về lòng tin và những điều tốt đẹp đang bị mai một dần trong cõi nhân gian. Bên cạnh gia tài đồ sộ về âm nhạc, đây có thể được xem là một áng văn chương ấn tượng trong đời hoạt động nghệ thuật của nhạc sĩ”.

Theo nhiều tác giả, các tình khúc của Trịnh Công Sơn thấp thoáng đây đó tên của những người tình đi qua đời ông. Chẳng hạn Diễm (trong Diễm xưa), Nguyệt (trong Nguyệt ca), hoặc Quỳnh trong “Quỳnh thơm hay môi em thơm”. Còn Thư tình gửi một người - là “người” nào? Trả lời câu hỏi trên, ông Nguyễn Minh Nhựt, Giám đốc NXB Trẻ, nói “xin được giữ bí mật” và hẹn sẽ giải đáp chi tiết trong một ngày gần đây. Tất cả các cuốn sách trên sẽ phát hành cuối tháng 3.2011 này.

Giao Hưởng
(Báo Thanh Niên, 10.3.2011)

8.3.11

Vua Minh Mạng và vùng đất Nam Bộ

Cuốn sách Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng (Southern Vietnam under the reign of Minh Mang) vừa ra mắt độc giả Việt Nam. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn PGS-TS Choi Byung Wook, tác giả của công trình này.

Triều Minh Mạng (1820-1841) và vùng đất Nam Bộ có sức hút đặc biệt như thế nào với ông?

PGS-TS Choi Byung Wook: Tôi quan tâm tới những vấn đề gốc rễ dẫn đến chiến tranh vào đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi vào những năm 1833-1835 tại Sài Gòn, tôi tiếp tục hướng nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ những năm đầu thế kỷ 19, về Tổng trấn Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng. Lý do tôi tập trung vào vùng đất Nam Bộ trong khoảng thời gian trị vì của vua Minh Mạng là bởi khi đọc cuốn Đại Nam thực lục (bộ biên niên sử của triều đình nhà Nguyễn), tôi nhận thấy những người thống trị quan tâm sâu sắc đến việc kiểm soát Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ 19. Dưới triều vua Minh Mạng, những công việc của chính quyền T.Ư ở Nam Bộ tăng lên thường xuyên hơn, cũng đúng vào khoảng thời gian đó, mối quan hệ căng thẳng giữa triều đình Huế và Nam Bộ lên đến đỉnh điểm. Tôi băn khoăn, liệu những hành động của vua Minh Mạng có gây ra những biến động chính trị sau đó ở Nam Bộ hay không.

Nghiên cứu của tôi trước hết đề cập tới giai đoạn hình thành vùng đất Gia Định, sự xung đột giữa triều đình T.Ư với hệ thống cai trị địa phương, cũng như với người dân phương Nam. Tiếp đó, là ba chính sách quan trọng của vua Minh Mạng thực hiện sau khi xóa bỏ chính quyền địa phương Gia Định: giáo hóa người phương Nam, “Việt hóa” các nhóm tộc người (bao gồm cả người Hoa) và chính sách đạc điền mới dẫn đến sự thừa nhận chính thức các chủ đất tư nhân và sự tích tụ đất đai ở Nam Bộ.

Với những nghiên cứu đã thực hiện, ông đánh giá thế nào về những chính sách của vua Minh Mạng tại Nam Bộ?

Mặc dù vua Minh Mạng lấy hình mẫu là vua Lê Thánh Tông nhưng hai thời đại lại hoàn toàn khác biệt. Vua Minh Mạng là người đã mang đến những chính sách thay đổi sâu sắc trên cả ba bình diện văn hóa, đối ngoại, kinh tế cho vùng đất Nam Bộ dưới triều đại hợp nhất cả ba miền Bắc, Trung, Nam như hiện nay. Tôi đặc biệt đánh giá cao ông khi đã làm được nhiệm vụ quan trọng là tạo dựng và duy trì một Việt Nam thống nhất. Chúng ta có thể hình dung ra những khó khăn mà một vị vua gặp phải trong việc xây dựng đất nước khi mà đất nước đó vừa trải qua 200 năm nội chiến và người dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau.

Hơn 20 năm nghiên cứu về nam bộ

PGS-TS Choi Byung Wook (hiện đang làm việc tại khoa Lịch sử, ĐH Inha - Hàn Quốc) tới Việt Nam nghiên cứu lịch sử từ những năm 1990 với sự giúp đỡ ban đầu của GS Phan Huy Lê. Năm 1992, tại ĐH Hàn Quốc, ông thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài nghiên cứu Gia Định thành Tổng trấn, mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt. Luận văn tiến sĩ Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng do ông thực hiện tại ĐH Quốc gia Úc trong những năm 1994 -1999, được chương trình Đông Nam Á của ĐH Cornell (Mỹ) xuất bản thành sách vào năm 2004. Bảy năm sau, với sự giúp đỡ của khoa Lịch sử - trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội), cuốn sách với bản dịch tiếng Việt (Từ Văn Books và Nhà xuất bản Thế giới phát hành) đã đến với độc giả.



Minh Ngọc
(Báo Thanh Niên, 9.3.2011)

4.3.11

Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng


Lời giới thiệu

Chúng ta đang có trên tay bản dịch tiếng Việt của cuốn sách “Southern Vietnam under the Reign of Minh Mạng (1820 - 1841)” (Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng)” của PGS.TS. Choi Byung Wook, Đại học Inha (Hàn Quốc), chuyên gia Việt Nam học. Công trình dựa trên bản Luận án Tiến sỹ và đề tài nghiên cứu khoa học cùng tên của tác giả ở Đại học Quốc gia Australia, được chương trình Đông Nam Á của Đại học Cornell, New York xuất bản năm 2004.

Trong lịch sử, những đóng góp về nghiên cứu chuyên sâu Việt Nam của các học giả nước ngoài hầu như đã tập trung vào 3 nước lần lượt là Trung Hoa, Pháp và Mỹ - các quốc gia có nhiều mối duyên nợ lịch sử, tích cực lẫn đau buồn với Việt Nam. Trong số đó, những công trình khoa học đề cập đến lịch sử - văn hóa Việt Nam trung cận đại của các học giả Pháp có phần vượt trội hơn cả. Từ mấy thập kỷ nay, các chuyên gia Việt Nam học người nước ngoài đã mở rộng hơn tới một số nước khác, trong đó có Hàn Quốc. Một cuốn sách được nhiều người trong giới nghiên cứu Việt Nam biết đến là tác phẩm “Law and Society in 17th and 18th Century Vietnam” (Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18) (Korea University 1990) của Giáo sư Insun Yu đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản năm 2002.

Đi sâu vào nghiên cứu Việt Nam thời các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn, chúng ta thấy có một cuốn sách được nhiều người biết đến, là cuốn “Vietnam and the Chinese Model” (Việt Nam và mô hình Trung Hoa) của tác giả Alexander B. Woodside (Harvard University Press, 1971). Sau đó là những cuốn “L’empire vietnamien face à la France et à la Chine, 1847-1885” (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa) của Yoshiharu Tsuboi (Paris, 1987) và cuốn “Nguyen Cochinchina Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries” (Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII) của Li Tana (Cornell University, 1998). Hai cuốn kể sau đều đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản ở Việt Nam. Cũng có thể kể thêm các chuyên luận "The Mekong Delta: Ecology, Economy and Revolution" (Đồng bằng sông Cửu Long: Sinh thái, kinh tế và cách mạng) của Pierre Brocheux (1995), “Surface Orientations in Vietnam: Beyond Histories of Nation and Region” (Xu hướng phát triển vùng miền ở Việt Nam qua lịch sử quốc gia và vùng) của Keith Taylor (1998), “Southern Regionalism and the Composition of the Nguyen Ruling Elite” (Chủ nghĩa địa phương miền Nam và sự hợp thành giai tầng thượng lưu thống trị của nhà Nguyễn) của Nola Cook (1999).

Công trình của Choi Byung Wook có một khung không gian - thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp và cụ thể hơn nữa: vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng và vấn đề cũng được giới hạn: các chính sách của triều đình trung ương và phản ứng của địa phương, qua quá trình chuyển biến về chính trị - hành chính và những nét đặc thù về lịch sử, văn hóa, kinh tế, cư dân của vùng đất này. Chính phạm vi hạn hẹp đã được đền bù lại thích đáng bằng sự phong phú và chuyên sâu của tác phẩm, những sự kiện ở mức chi tiết và những lập luận khá vững chắc. Tác giả thừa hưởng và tận dụng khá triệt để kho tư liệu phong phú của những người đi trước bằng nhiều nguồn ngôn ngữ - văn tự: Hán Nôm, Việt, Pháp, Anh, Nhpật… Đặc biệt, nét nổi trội và có phần ưu thế so với một số tác giả khác là phần nghiên cứu điền dã và khảo sát thực địa, với một lao động khoa học nghiêm túc và tốn nhiều công sức. Tác giả đã thực hiện những cuộc tiếp xúc, phỏng vấn để kiếm tìm những thông tin hồi cố qua những câu chuyện kể, trao đổi với các nhà nghiên cứu, sưu tầm những bản gia phả, văn tự, hồi ký. Tác giả cũng tận dụng phương pháp phân tích định lượng qua những con số thống kê, bảng biểu so sánh. Dưới chiếc kính lúp phóng to của nhà nghiên cứu, nhiều chi tiết nhỏ đã được hiện lên rõ nét và nói lên ý nghĩa, được sử dụng làm dữ kiện chứng minh cho những luận cứ được định hướng của tác giả, mà trong một số trường hợp cũng có thể cần nên thảo luận.

Nhìn một cách tổng quát, cuốn chuyên khảo của tác giả Choi Byung Wook là một công trình nghiên cứu bổ ích, có giá trị. Nó cung cấp cho chúng ta những tư liệu mới, một số lập luận kiến giải mới, một phương pháp tiếp cận khoa học và đưa ra những gợi ý mới, những vấn đề mới có thể trao đổi trong những cuộc thảo luận rộng mở sau này.

Cuốn sách được thiết kế với hai phần chính có liên quan với nhau: quá trình vận hành và đặc điểm cấu trúc của vùng đất Nam Bộ trong nửa đầu thế kỷ XIX.

Mở đầu phần I: “Chính quyền địa phương và sự tiêu vong của nó”, tác giả phác họa sự hình thành vùng đất Gia Định đã dựa trên di sản và những điều kiện nào, từ giai đoạn trước vương triều Nguyễn (1788 - 1802) như một căn cứ địa về quân sự, chính trị và kinh tế của Nguyễn Ánh trong công cuộc chống Tây Sơn. Nguyễn Ánh xuất xứ là một di duệ của các vị chúa xứ Đàng Trong có đô thành là Phú Xuân ở miền Trung nhưng thực chất và chủ yếu là một con người của vùng đất Gia Định Nam Bộ, nơi ông trưởng thành và được tôi luyện thành một thủ lĩnh, quy tụ và cố kết các bạn chiến đấu, quân sĩ và thần dân của mình thành một lực lượng, nhóm quyền lực Gia Định. Tác giả cũng phân tích thái độ rộng lượng, bao dung và thuyết phục của nhân vật lịch sử này đối với các thành phần, tầng lớp xã hội khác nhau, các sắc tộc và những người tình nguyện ngoại quốc (Xiêm, Hoa, Pháp), tạo nên một lợi thế và là một nhân tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của Nguyễn Ánh.

Gia Long là một vị hoàng đế lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam trị vì và cai quản một đất nước thống nhất có diện tích lớn nhất từ trước đến nay. Trong điều kiện đó, nhà vua có sáng kiến tích cực là thực hiện một kiểu chế độ phân quyền có điều kiện: trực trị miền Trung, gián trị miền Bắc và miền Nam qua việc lập ra Bắc thành Tổng trấn và Gia Định thành Tổng trấn. Tuy nhiên, tác dụng tích cực lúc ban đầu đã sớm bộc lộ điểm yếu và trở thành một trở lực, tạo nên một xu thế và những ý đồ mang tính chất ly tâm, cát cứ, muốn thoát khỏi dần sự kiểm soát của triều đình trung ương, thể hiện phần nào qua động thái của Nguyễn Văn Thành ở miền Bắc và đặc biệt là Lê Văn Duyệt ở miền Nam. Tác giả đã tạo dựng hình ảnh cận cảnh của vị Tả quân, Tổng trấn Gia Định thành này qua công việc gây dựng cơ đồ của ông, dựa chủ yếu vào những con người bản địa của vùng đất Nam Bộ, trong đó có 3 thành phần đáng lưu ý là các tù phạm, Hoa kiều và giáo dân đạo Thiên chúa, với những biện pháp vừa kiên quyết cứng rắn, vừa thuyết phục mềm dẻo, giống như tính cách con người Ông. Và phải nói là Lê Văn Duyệt đã thành công, chí ít là cho đến khi ông ta qua đời. Chính thể Gia Định đã tồn tại vững chắc, bất chấp sự không hài lòng dẫn đến thái độ phê phán và hành động can thiệp của vua Minh Mạng. Tuy nhiên vào lúc này, trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa trung ương và địa phương phản ánh thực chất thế đối trọng giữa nhà vua và một số quyền thần có thế lực lớn, phía nhà vua đã thắng. Gia Long và Minh Mạng là những vị hoàng đế mạnh, đã trấn áp được các đại thần muốn vượt quyền như Nguyễn Văn Thành, Lê Chất, Lê Văn Duyệt. Điều này khác với triều Tự Đức sau này, khi cuộc tranh chấp vẫn tiếp tục nhưng cán cân lực lượng đảo ngược lại, các vị quyền thần sẽ o bế và áp chế được nhà vua.

Cuối cùng thì Minh Mạng đã thành công trong việc giải thể Gia Định thành Tổng trấn trong cuộc cải cách hành chính năm 1831 - 1832, nắm lại quyền kiểm soát và cai trị trực tiếp vùng đất Gia Định, lúc này trở thành 6 tỉnh Nam Kỳ, đồng thời cho thi hành những chính sách mới theo quan điểm và ý kiến riêng của nhà vua.

Tác giả Choi dành cả phần II của cuốn sách để trình bày quá trình thực hiện và phân tích những tác động hệ quả của những chính sách mới đó trên cả 3 bình diện: văn hóa, đối ngoại và kinh tế, bao trùm lên là việc xây dựng những thiết chế hành chính mới. Ngay từ thời Lê Văn Duyệt, đặc biệt là sau khi trấn áp được cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi, nhà vua đã đưa vào vùng đất Nam Bộ và cài cắm ở đó những “người của mình” - tầng lớp quan văn được tuyển lựa qua khoa cử, chủ yếu có quê gốc ở miền Trung và miền Bắc để thực hiện những đường lối chính sách mới, trung thành với quan điểm của nhà vua và triều đình trung ương, kiểm soát những ảnh hưởng còn lại của phái ly tâm Gia Định và xóa bỏ mọi uy tín của vị Tả quân trong dân chúng.

Choi Byung Wook đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu những nền tảng địa - xã hội, địa - văn hóa của xứ Nam Bộ với tư cách một vùng lãnh thổ tương đối mới, đất đai phong phú, thiên nhiên hào phóng và ưu đãi, văn minh sông rạch và miệt vườn nổi trội để từ đó rút ra những nét đặc thù của con người Nam Bộ có phần khác biệt với cư dân các miền Trung và Bắc. Theo ông, người Nam Bộ ưa tự do thoải mái, thờ ơ với con đường sĩ hoạn, học hành để làm quan (mà tác giả gọi là tính lười nhác) nhưng lại chăm chú siêng năng vào các hoạt động kinh tế làm ăn buôn bán, nếp sống hồn nhiên thô mộc. Do vậy, để đưa miền đất này hòa nhập chung với toàn quốc và gò ép vào khuôn phép Nho giáo mà Minh Mạng là một tín đồ nhiệt thành, nhà vua đã cho thi hành nhiều biện pháp giáo hóa về văn hóa tư tưởng như lập nhiều trường học, mở khoa thi, ban bố các huấn điều chuẩn mực đề cao đạo đức luân lý Khổng giáo… nhằm cải hóa người dân Nam Bộ. Kết quả là tâm thức của con người vùng đất này có phần nào chuyển biến, một tầng lớp nho sĩ chính thống ở Nam Bộ được hình thành.

Trong chương tiếp theo, tác giả Choi muốn đưa ra một cách tiếp cận mới về chính sách đối với các sắc tộc thiểu số và sự mở rộng lãnh thổ vương quốc của Minh Mạng sang Chân Lạp, lúc này được gọi là Trấn Tây thành, gắn liền với việc chuyển đổi quốc hiệu từ “Việt Nam” thời Gia Long sang “Đại Nam” thời Minh Mạng. Tác giả muốn gọi đó là một quá trình đồng hóa, áp dụng chung cho cả đường lối chính sách của nhà nước phong kiến cũng như những quan hệ tiếp xúc giao lưu trong sự chung sống giữa các cộng đồng người Việt, người Khmer, người Hoa cùng những tộc người thiểu số. Theo tác giả, hậu quả của quá trình đồng hóa đó đã phải trả giá khá đắt, đó là những mâu thuẫn, xung đột dân tộc và sắc tộc bùng nổ thành nhiều cuộc bạo loạn xảy ra dưới thời Minh Mạng.

Sự thực, đây là một vấn đề tế nhị. Lịch sử vốn là một sự đan quyện phức tạp, hòa trộn hai dòng chảy: lịch sử của các nhà cầm quyền, những chính sách của nhà nước và hệ quả của nó, cùng với một lịch sử khác của quần chúng nhân dân trong thực tiễn nhiều mặt của đời sống. Hai dòng lịch sử đó, tuy có tác động ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nên đánh đồng làm một.

Một thực tế lịch sử nữa là trong quá trình chung sống giữa các cộng đồng dân cư, dân tộc và sắc tộc ở vùng đất Nam Bộ thời kỳ này, nét chủ đạo chính là một sự dung hợp, tiếp biến đa chiều, tích hợp hơn là một sự đồng hóa áp đặt về dân cư, văn hóa để tạo thành một thực thể không gian xã hội mới. Họ cùng gánh chịu chung sự áp chế của một chính quyền nhà nước chuyên chế, dẫn đến những hành động phản kháng, bạo động. Coi nhẹ yếu tố chung đó có thể là chưa khách quan và không công bằng.

Chương cuối của cuốn sách dành cho sự phân tích những đặc trưng và các quan điểm, chính sách kinh tế của nhà nước thời Minh Mạng đối với vùng đất Nam Bộ qua công cuộc đạc điền, đặc biệt là về các mặt phương thức chiếm hữu, canh tác và quyền sở hữu ruộng đất. Tác giả Choi phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội của vùng đất Nam Bộ đã tạo cơ sở cho sự phát triển của chế độ tư hữu lớn và giai cấp đại địa chủ ở phần lãnh thổ này, đặc biệt là các hoạt động khai hoang ở một vùng đồng bằng phì nhiêu dễ canh tác. Tác giả cho rằng tính dễ di chuyển của người nông dân Nam Bộ - thực chất là biểu hiện của hiện tượng nông dân lưu tán - đã dẫn đến nạn ẩn lậu ruộng đất và tạo điều kiện cho sự tích tụ ruộng đất. Tác giả cũng đã có lý khi phân tích về sự nghịch lý biện chứng giữa hai xu hướng đối lập: bảo hộ ruộng đất công và ủng hộ ruộng tư trong phép đạc điền của Minh Mạng, cũng như quan điểm thực dụng kinh tế của nhà vua này. Ông chấp nhận nhượng bộ một thực tế là phần ruộng công đã bị thu hẹp ngay cả khi đã điều chỉnh và mặc dù nó là biểu tượng của quyền lực nhà nước tập quyền. Ông coi trọng việc đạt tới mục đích chủ yếu là gia tăng nền sản xuất nông nghiệp quốc dân và nguồn lợi thu thuế của nhà nước, khi để cho giai cấp địa chủ và chế độ tư hữu lớn về ruộng đất phát triển.

Toát lên trong toàn bộ cuốn sách, ngoài nhân vật Tổng trấn Lê Văn Duyệt, Choi Byung Wook đã tập trung phân tích cá tính và vai trò của vua Minh Mạng, một nhân vật lịch sử lớn đầy mâu thuẫn. Trong khi thừa nhận tầm vóc lớn lao cũng như tính cách quyết đoán mạnh mẽ đến mức chuyên chế của nhà vua, tác giả phản bác những đánh giá có phần đơn giản hóa về tính bảo thủ cực đoan của nhà vua và cho rằng Minh Mạng là con người thông minh, sắc sảo, quan tâm nghiên cứu đến những cái mới, những hiện tượng canh tân trong các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, nghiêm túc xem xét những ý kiến về cải cách của các triều thần. Tuy nhiên, thực tế là vị hoàng đế đầy năng động này - như một phiên bản thu nhỏ và không được hoàn cảnh ủng hộ của mẫu thần tượng của ông là vua Lê Thánh Tông - vẫn chỉ tung hoành trong một vòng kim cô chật hẹp và xơ cứng, đó là chế độ phong kiến nhà nước quan liêu trong giai đoạn hậu mô hình. Nhà nước đó lại dựa trên một bệ đỡ tinh thần là hệ tư tưởng Nho giáo chính thống, đến lúc đó đã mắc lỗi hệ thống với nhiều khuyết tật. Nó bị dồn ép vào thế biệt lập trong một toàn cảnh thế giới và khu vực đầy biến động, trước những sóng gió của những ý đồ và động thái can thiệp của các cường quốc thực dân phương Tây. Minh Mạng nghiên cứu và tìm hiểu kỹ thuật tiên tiến của châu Âu là để phục vụ cho một chiến lược phòng thủ chống lại, chứ không phải là một chọn lựa và chấp nhận một đường lối mới, với những cách nhìn và giải pháp mới. Đó chính là một bi kịch lịch sử, mà hệ quả tai hại đã bộc lộ rõ rệt trong những thập kỷ tiếp sau: một di sản yếu hèn của quốc gia và sự thất bại dẫn đến mất nước dưới thời vua Tự Đức.

Cảm nhận bao trùm của người đọc cuốn sách của Choi Byung Wook là bằng một phương pháp nghiên cứu thực chứng và phân tích định lượng khá hiện đại, tác giả đã phục dựng cho chúng ta một toàn cảnh vùng đất Nam Bộ dưới thời Minh Mạng, một mảnh đất đầy tiềm năng, xung lực nhưng cũng hàm chứa nhiều mâu thuẫn nội tại. Tác giả đã có ý tô đậm hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa triều đình trung ương và thực thể di sản truyền thống địa phương và mâu thuẫn giữa các cộng đồng cư dân, trong đó có mâu thuẫn dân tộc và sắc tộc. Người đọc dễ dàng thấy một sự quan sát sắc sảo ở luận cứ thứ nhất, đồng thời còn băn khoăn về sự toàn diện và tính thuyết phục của luận cứ thứ hai. Có thể ở đây lý luận về một “chủ nghĩa địa phương - vùng” trong nghiên cứu là một lợi thế tích cực nhưng nó sẽ trở thành một điểm yếu nếu chúng ta quá tin cậy khi sử dụng, nhất là trong điều kiện những dữ liệu còn ở mức khiêm tốn. Điều đó cũng có thể áp dụng cho phương pháp phân tích định lượng. Lịch sử vốn là một ma trận phức hợp luôn luôn biến động ẩn hiện, với vô vàn những tham số. Mà sự tiếp cận, nắm bắt và hiểu hết được bản chất những sự kiện, thông tin xác thực của chúng ta thì chỉ hạn hẹp. Vậy mọi sự quy nạp, khẳng định và kết luận phải chăng nên để ngỏ và mềm dẻo? Tuy nhiên, đặt ra được câu hỏi, đã là tìm được một nửa câu trả lời.

Cuốn sách được chọn dịch sang bản tiếng Việt do một nhóm các nhà nghiên cứu trẻ, nhiều tiềm năng và đầy nhiệt tình, trách nhiệm thực hiện. Công việc đọc lại và hiệu đính cũng được tiến hành nghiêm túc, trên cơ sở cố gắng tôn trọng tinh thần và cách diễn đạt ngôn ngữ của nguyên bản. Tuy nhiên, chúng tôi ý thức rằng sẽ còn những hạt sạn trong khâu biên dịch, rất mong muốn được độc giả phát hiện và nhặt ra để có thể hoàn thiện trong lần tái bản. Mặt khác, chúng tôi cũng chờ đón những nhận xét cùng những ý kiến phản biện tranh luận đối với những thông tin và luận cứ của tác giả nguyên bản, với hy vọng có thể làm sáng tỏ hơn một số vấn đề trên hướng đi tiếp cận tới sự thực lịch sử, là điều mà mọi chúng ta mong muốn.
Hà Nội, ngày đầu năm Tân Mão 2011

PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ
Đại học Quốc gia Hà Nội
---

Trong năm 2011, Từ Văn Books sẽ lần lượt xuất bản các cuốn trong bộ sách Việt Nam trong quá khứ: Tư liệu nước ngoài. Đây là chương trình hợp tác liên kết xuất bản giữa NXB Thế giới, Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và công ty sách Từ Văn. Cuốn sách Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng của tác giả Choi Byung Wook, sách dày 336 trang, giá 70.000đ sẽ là cuốn sách đầu tiên được giới thiệu trong năm nay.

>> Việt Nam trong quá khứ: Tư liệu nước ngoài